Điều 10. Định kỳ công bố kết quả hệ thống hóa văn bản
1. Năm thứ năm của kỳ hệ thống hóa văn bản (kỳ hệ thống hóa văn bản là 05 năm, kỳ hệ thống hóa đầu tiên thực hiện thống nhất trong cả nước là ngày 31 tháng 12 năm 2013), Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý của ngành mình, cấp mình theo trình tự, thủ tục hệ thống hóa văn bản.
2. Sau khi có kết quả hệ thống hóa văn bản, chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm thứ năm của kỳ hệ thống hóa văn bản, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm gửi kết quả hệ thống hóa và các danh mục văn bản thuộc đối tượng hệ thống hóa cho Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp để tổng hợp.
3. Sau khi nhận được kết quả hệ thống hóa văn bản của các cơ quan chuyên môn, chậm nhất 60 ngày, kể từ thời điểm hệ thống hóa văn bản, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp tiến hành kiểm tra lại kết quả rà soát và kiến nghị rà soát bổ sung (nếu có). Việc kiểm tra lại kết quả rà soát và rà soát bổ sung thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 25 Nghị định số 16/2013/NĐ-CP. Kết quả hệ thống hóa văn bản được Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, công bố.
4. Chậm nhất 60 ngày, kể từ thời điểm hệ thống hóa văn bản, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm công bố kết quả hệ thống hóa văn bản của cấp mình.
5. Hồ sơ hệ thống hóa văn bản trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã gồm: Báo cáo kết quả hệ thống hóa văn bản; tập hệ thống hóa văn bản; các danh mục văn bản; hồ sơ rà soát văn bản bổ sung (nếu có); các tài liệu khác có liên quan.
6. Kết quả hệ thống hóa văn bản phải được đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan rà soát (nếu có). Trong trường hợp cần thiết, cơ quan rà soát văn bản phát hành tập hệ thống hóa văn bản bằng hình thức văn bản giấy. Danh mục văn bản hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của tỉnh phải được đăng công báo; danh mục văn bản hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của cấp huyện và cấp xã phải niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cùng cấp.
Trường hợp sau khi công bố, phát hiện các danh mục văn bản và tập hệ thống hoá văn bản còn hiệu lực có sai sót thì tiến hành rà soát lại và đính chính.