Điều 7. Trách nhiệm giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản của UBND cấp huyện
1. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất có rừng, đất để trồng rừng giữa các bên tranh chấp là cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư với nhau mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất có rừng, đất để trồng rừng theo quy định của pháp luật đất đai, pháp luật bảo vệ và phát triển rừng.
2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chưa gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại đến rừng, lâm sản, môi trường rừng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự:
a) Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác rừng, Giấy phép sử dụng súng săn, Giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật rừng trong thời hạn 1 năm, Giấy phép hành nghề kinh doanh nhà hàng, khách sạn, cửa hàng mỹ nghệ, cửa hàng lưu niệm trong thời hạn 2 năm, Giấy phép, chứng chỉ CITES, Giấy phép vận chuyển đặc biệt, giấy phép lái xe trong thời hạn 6 tháng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 6 - Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản;
b) Hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp huyện quy định tại các điều, từ Điều 8 đến Điều 23 - Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ;
3. Quyết định cưỡng chế chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp xã, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm.