Điều 13. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đơn khiếu nại phải thực hiện:
1. Đơn khiếu nại có đủ điều kiện do Luật khiếu nại, tố cáo quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thì cơ quan tham mưu cùng cấp phải xem xét kỹ; dự thảo kế hoạch, đề xuất hướng giải quyết trình Chủ tịch UBND hoặc Thủ trưởng đơn vị để chỉ đạo giải quyết theo thẩm quyền.
2. Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết nhưng không đủ các điều kiện để thụ lý giải quyết theo quy định của Điều 2 Nghị định 136/2006/NĐ-CP thì hướng dẫn hoặc trả lời bằng văn bản cho người khiếu nại biết rõ lý do không thụ lý.
3. Đối với những đơn có nội dung vừa khiếu nại, vừa tố cáo thì xử lý nội dung khiếu nại theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều này, còn nội dung tố cáo thì xử lý theo quy định tại Điều 15 của Quy chế này.
4. Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới trực tiếp nhưng quá thời hạn chưa giải quyết thì đề xuất với lãnh đạo cấp mình có biện pháp kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết của cấp dưới.
5. Đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết lần hai, người khiếu nại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới thì không thụ lý mà thông báo, chỉ dẫn bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Việc hướng dẫn, trả lời chỉ thực hiện một lần đối với một vụ khiếu kiện.
Trường hợp người khiếu nại có gửi kèm theo giấy tờ, tài liệu bản gốc có liên quan đến nội dung khiếu nại thì phải gửi trả lại các tài liệu, giấy tờ đó cho người khiếu nại.
6. Đơn khiếu nại do Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND và các thành viên của MTTQ hoặc cơ quan báo chí chuyển đến: thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp nào thì phải thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đơn đến biết; nếu không thuộc thẩm quyền giải quyết thì gửi trả lại và thông báo bằng văn bản cho cơ quan tổ chức, cá nhân chuyển đơn đó biết.