Điều 6. Các hình thức xử lý vi phạm chính sách DS - KHHGĐ:
a) Đối với cá nhân:
a.1 Những cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ vi phạm chính sách DS - KHHGĐ, sinh con thứ 3 (trở lên), nếu là đảng viên, cán bộ, công chức, người lao động trong doanh nghiệp Nhà nước, chiến sĩ lực lượng vũ trang thì đưa ra kiểm điểm giáo dục tại đơn vị cơ sở và xử lý theo quy định tại Chỉ thị 50/CT.TW ngày 6/5/1995 của Ban Bí thư TW Đảng (khóa VII), Chỉ thị 37/TTg ngày 17/1/1997 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 06/CT.TU ngày 24/2/1997 của Thường vụ Tỉnh ủy. Các trường hợp khác trong nhân dân đưa ra kiểm điểm giáo dục tại khu dân cư và giải quyết theo cam kết với chính quyền địa phương.
a.2 Cán bộ DS - KHHGĐ, cán bộ y tế làm kỹ thuật dịch vụ KHHGĐ để xảy ra tai biến, có trách nhiệm phối hợp khắc phục hậu quả; nếu do thiếu tinh thần trách nhiệm thì tùy mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật thích đáng, trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
a.3 Cá nhân có những hành vi vận động người khác không tán thành hoặc tuyên truyền chống lại chính sách DS - KHHGĐ sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
b) Đối với tập thể:
Chính quyền xã, phường, thị trấn, cơ quan , đơn vị cơ sở có cá nhân vi phạm a.1 Điều 6 nêu trên bị trừ điểm thi đua khi xem xét công nhận danh hiệu ‘Cơ sở trong sạch vững mạnh”, xem xét hoàn thành kế hoạch và thành tích thi đua khen thưởng hàng năm. Nếu do thiếu trách nhiệm, không thực hiện tốt nhiệm vụ thì tùy theo mức độ sai phạm mà xử lý kỷ luật hành chính.