vanban.org

Điều 20 — Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN8 Về lực lượng Cảnh Sát Nhân Dân Việt Nam

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hội đồng Nhà nước Ban hành 28/01/1989 Hiệu lực 28/01/1989 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 1 phiên bản · 37 năm
Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN8 Về lực lượng Cảnh Sát Nhân Dân Việt Nam 1989 · 14-LCT/HĐNN8
19/09/1991Pháp lệnh sửa đổi 1991Chưa hợp nhất 28/01/1989Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 14-LCT/HĐNN8 › Chương II › Điều 20
Đọc toàn văn

Điều 20

1- Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân được sử dụng các biện pháp, phương tiện nghiệp vụ, được trang bị vũ khí, các công cụ hỗ trợ do Hội đồng bộ trưởng quy định ; được dùng vũ lực khi bị người có hành vi phạm tội chống cự, ngăn cản hoặc để bắt giữ người có hành động hung hãn chống đối hoặc chạy trốn khi áp giải.

2- Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân chỉ được nổ súng trong các trường hợp sau đây :

a) Để bảo vệ công dân khi bị người khác trực tiếp đe doạ tính mạng ;

b) Để ngăn chặn sự tấn công vào mục tiêu phải bảo vệ ;

c) Để bắt giữ người có hành vi phạm tội khi họ dùng vũ khí chống lại hoặc sau khi đã sử dụng các công cụ hỗ trợ mà không có hiệu quả ;

d) Để bắt người có hành vi phạm tội nghiêm trọng đang bị giữ, bị giam mà chạy trốn, nếu đã sử dụng các công cụ hỗ trợ vẫn không thể bắt giữ được ;

đ) Để bảo vệ bản thân cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân trong khi làm nhiệm vụ mà bị người khác trực tiếp đe doạ tính mạng.

Trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều này, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân chỉ được bắn sau khi đã hô hoặc nổ súng cảnh cáo, trừ trường hợp cấp bách ; nếu có người bị thương thì phải tổ chức cấp cứu.