vanban.org

Điều 19 — Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 Ưu đãi người có công với cách mạng

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 4/4 · từ 01/07/2021 Thay thế: 02/2020/UBTVQH14 · 09/12/2020 Sửa đổi, bổ sung: 01/2018/UBNVQH14 · 22/12/2018
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 29/06/2005 Hiệu lực 01/10/2005 Hết hiệu lực toàn bộ 55 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời pháp lệnh · 7 phiên bản · 23 năm
Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 Ưu đãi người có công với cách mạng · 02/2020/UBTVQH14
Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 Ưu đãi người có công với cách mạng · 26/2005/PL-UBTVQH11
Pháp lệnh số 01/2002/PL-UBTVQH11 Sửa đổi Điều 22 và Điều 23 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng · 01/2002/PL-UBTVQH11
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 26/2005/PL-UBTVQH11 › Chương II › Mục 6 › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19

1. Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận thương binh" và "Huy hiệu thương binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;

b) Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể;

c) Làm nghĩa vụ quốc tế;

d) Đấu tranh chống tội phạm;

đ) Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;

e) Làm nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

g) Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao;

h) Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm.

2. Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21 % trở lên thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh".

3. Thương binh loại B là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993.

4. Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh và thương binh loại B quy định tại Điều này được gọi chung là thương binh.

5. Thương binh có vết thương đặc biệt tái phát được khám và giám định lại tỷ lệ suy giảm khả năng lao động theo quy định của Chính phủ.