vanban.org

Điều 47 — Pháp lệnh số Không số Thi hành án dân sự

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2004 Thay thế: 13/2004/PL-UBTVQH11 · 14/01/2004
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 21/04/1993 Hiệu lực 01/06/1993 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời pháp lệnh · 4 phiên bản · 36 năm
Pháp lệnh số 13/2004/PL-UBTVQH11 Thi hành án dân sự · 13/2004/PL-UBTVQH11
Pháp lệnh số Không số Thi hành án dân sự 1993
01/06/1993Bản gốcThay thế Đang xem
Pháp lệnh số 23-LCT/HĐNN8 Thi hành án dân sự 1989 · 23-LCT/HĐNN8
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh Không số › Chương VI › Điều 47
Đọc toàn văn

Điều 47

Xử lý vi phạm.

1- Khi người phải thi hành án đã được giải thích mà không tự nguyện thi hành quyết định của cơ quan thi hành án buộc bản thân họ thực hiện hành vi nhất định, trừ việc giao nộp tài sản, thì chấp hành viên có quyền phạt tiền người đó từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng.

2- Khi cơ quan, tổ chức phải thi hành án không thi hành các biện pháp cưỡng chế thi hành án theo yêu cầu của chấp hành viên thì thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền phạt từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng.

3- Người nào cố ý không thi hành bản án, quyết định của Toà án, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết; lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án hoặc ép buộc chấp hành viên thi hành án trái pháp luật; phá huỷ niêm phong hoặc có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, huỷ hoại tài sản bị kê biên trong khi thi hành án, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.