vanban.org

Điều 15 — Pháp lệnh số Số: 18/LCT Quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức các Toà án nhân dân địa phương

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 13/07/1981 Sửa đổi, bổ sung: 18/LCT · 15/01/1970
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 23/03/1961 Hiệu lực 30/03/1961 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 1 phiên bản · 65 năm
Pháp lệnh số Số: 18/LCT Quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức các Toà án nhân dân địa phương 1961 · Số: 18/LCT
27/01/197018/LCTChưa hợp nhất 30/03/1961Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh Số: 18/LCT › Chương III › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15

Chánh án, Phó chánh án và các thẩm phán của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn.

Các uỷ viên Uỷ ban thẩm phán của các Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn.

Chánh án, Phó chánh án, các thẩm phán và uỷ viên Uỷ ban thẩm phán có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.

Số thẩm phán của các Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, kể cả Chánh án và Phó chánh án, có từ bốn đến bảy người. Số uỷ viên Uỷ ban thẩm phán của các Toà án nhân dân đó có từ ba đến năm người.

Số thẩm phán của các Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, kể cả Chánh án và Phó chánh án, không quá ba người.

Chánh án Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể về số thẩm phán và uỷ viên Uỷ ban thẩm phán cần bầu cho mỗi Toà án nhân dân địa phương trong phạm vi quy định nói trên.