vanban.org

Điều 1 — Pháp lệnh số 38-LCT/HĐNN8 Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/10/1998
Hội đồng Nhà nước Ban hành 23/05/1990 Hiệu lực 01/10/1990 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 38-LCT/HĐNN8 › Chương I › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1

Trong Pháp lệnh này, những tổ chức tín dụng dưới đây được hiểu như sau:

1- "Ngân hàng thương mại" là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.

- "Ngân hàng thương mại quốc doanh" là ngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% vốn ngân sách Nhà nước.

- "Ngân hàng thương mại cổ phần" là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chức không được sở hữu số cổ phần của ngân hàng quá tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước quy định.

- "Ngân hàng nước ngoài" là ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài. "Chi nhánh ngân hàng nước ngoài" là cơ sở của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

- "Ngân hàng liên doanh" là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của Bên ngân hàng Việt Nam và Bên ngân hàng nước ngoài, có trụ sở tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

2- "Ngân hàng đầu tư và phát triển" là ngân hàng quốc doanh, nhận vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước để đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế - kỹ thuật của Nhà nước và huy động vốn trung hạn, dài hạn trong nước, ngoài nước để cho vay trung hạn, dài hạn là chủ yếu.

3- "Hợp tác xã tín dụng" là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được thành lập bằng vốn đóng góp của xã viên, huy động các nguồn vốn của xã viên và cho xã viên vay.

4- "Công ty tài chính" là công ty quốc doanh hoặc cổ phần, hoạt động chủ yếu là cho vay để mua, bán hàng hoá, dịch vụ bằng nguồn vốn của mình hoặc vay của dân cư.