Điều 8. Thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản công
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thanh lý tài sản công tại các cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính và các cơ quan liên quan đối với các trường hợp sau:
a) Nhà, công trình sự nghiệp hoặc tài sản khác gắn liền với đất có nguyên giá theo sổ kế toán có giá trị từ 01 tỷ đồng trở lên/01 đơn vị tài sản.
b) Xe ô tô các loại.
c) Máy móc, thiết bị, quyền sở hữu trí tuệ, phần mềm ứng dụng, cơ sở dữ liệu và các tài sản khác có nguyên giá theo sổ kế toán có giá trị từ 01 tỷ đồng trở lên/01 đơn vị tài sản.
2. Giám đốc Sở Tài chính quyết định thanh lý tài sản công (trừ tài sản thuộc thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh) trên cơ sở đề nghị của Thủ trưởng các sở, ban, ngành cấp tỉnh hoặc tương đương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan liên quan đối với Nhà, công trình sự nghiệp hoặc tài sản khác gắn liền với đất thuộc trụ sở làm việc có nguyên giá theo sổ kế toán có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng/01 đơn vị tài sản.
3. Thủ trưởng các sở, ban, ngành cấp tỉnh hoặc tương đương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thanh lý tài sản (trừ tài sản thuộc thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc Sở Tài chính) thuộc phạm vi của ngành mình, cấp mình quản lý đối với:
a) Nhà, công trình sự nghiệp hoặc tài sản khác gắn liền với đất có nguyên giá theo sổ kế toán dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản;
b) Máy móc, thiết bị, quyền sở hữu trí tuệ, phần mềm ứng dụng, cơ sở dữ liệu và các tài sản khác có nguyên giá theo sổ kế toán dưới 01 tỷ đồng/01 đơn vị tài sản.