vanban.org

Điều 5. Chính sách hỗ trợ vay vốn — Nghị quyết 76/2026/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/09/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Thái Nguyên Ban hành 13/08/2026 Hiệu lực 01/09/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 76/2026/NQ-HĐND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Chính sách hỗ trợ vay vốn

1. Chính sách hỗ trợ vay vốn phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng

a) Đối tượng được hỗ trợ vay vốn: Người lao động là thành viên trong hộ gia đình có đăng ký thường trú trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

b) Nội dung vay vốn: Đầu tư làm mới hoặc cải tạo mở rộng nhà truyền thống, nhà để kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch (homestay); mua sắm, đầu tư các thiết bị, vật dụng khác phục vụ kinh doanh du lịch; đầu tư phát triển nghề truyền thống, phát triển sản phẩm nông nghiệp phục vụ du lịch;

c) Mức cho vay: Tối đa 500 triệu đồng/01 người lao động được hỗ trợ
tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm và không phải bảo đảm tiền vay theo quy định; tối đa 1.500 triệu đồng/hộ gia đình;

d) Thời hạn cho vay vốn: Tối đa là 60 tháng. Thời hạn vay vốn cụ thể do Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh xem xét căn cứ vào nguồn vốn,
khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn để thỏa thuận với đối tượng vay vốn;

đ) Lãi suất cho vay: Bằng 127% lãi suất vay vốn đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định. Ngân sách tỉnh hỗ trợ 90% mức lãi suất vay đối với cá nhân thường trú tại xã thuộc khu vực III; hỗ trợ 70% mức lãi suất vay đối với cá nhân thường trú tại xã thuộc khu vực II; hỗ trợ 50% mức lãi suất vay đối với cá nhân thường trú tại xã thuộc khu vực I;

e) Điều kiện, trình tự thủ tục cho vay: Áp dụng quy định cho vay hỗ trợ
tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm của Ngân hàng Chính sách xã hội.

2. Chính sách hỗ trợ vay vốn đầu tư điểm du lịch

a) Đối tượng được hỗ trợ vay vốn: Doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (sau đây gọi tắt là cơ sở);

b) Nội dung hỗ trợ vay vốn đầu tư: Đầu tư nâng cấp, cải tạo, hoàn thiện điểm du lịch đã được công nhận và đầu tư xây dựng điểm du lịch mới bảo đảm các điều kiện theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch;

c) Mức cho vay: Tối đa 2.500 triệu đồng/cơ sở, tối đa 500 triệu đồng/01 lao động;

d) Thời hạn vay vốn: Thời hạn cho vay tối đa là 60 tháng. Thời hạn vay vốn cụ thể do Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh xem xét căn cứ vào nguồn vốn, khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn để thỏa thuận với đối tượng vay vốn;

đ) Lãi suất cho vay: Bằng 127% lãi suất vay vốn đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định. Ngân sách tỉnh hỗ trợ 90%
mức lãi suất vay đối với cơ sở có trụ sở chính tại xã thuộc khu vực III; hỗ trợ 70% mức lãi suất vay đối với cơ sở có trụ sở chính tại xã thuộc khu vực II; hỗ trợ 50% mức lãi suất vay đối với cơ sở có trụ sở chính tại xã thuộc khu vực I;

e) Điều kiện, trình tự, thủ tục cho vay: Áp dụng quy định cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm của Ngân hàng Chính sách xã hội;

g) Bảo đảm tiền vay: Cơ sở vay vốn trên 500 triệu đồng phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và quy định của Ngân hàng Chính sách xã hội.

3. Căn cứ Nghị quyết này, hằng năm Ủy ban nhân dân tỉnh cân đối, bố trí nguồn vốn ủy thác qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh để cho vay đầu tư điểm du lịch và phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng. Ngân sách tỉnh bố trí tối thiểu 20.000 triệu đồng/năm ủy thác qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh để thực hiện chính sách.

4. Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 130% lãi suất cho vay. Ngân sách cấp tỉnh không hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay nợ quá hạn.

5. Xử lý rủi ro: Việc xử lý rủi ro đối với nguồn vốn vay được thực hiện
theo quy định của pháp luật về xử lý rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội và Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh về quản lý, sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh.