vanban.org

Điều 3. Các nhóm giải pháp chủ yếu — Nghị quyết 69/2016/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ
Ninh Thuận Ban hành 19/12/2016 Hiệu lực 30/12/2016 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 69/2016/NQ-HĐND › Điều 3
Đọc toàn văn

Điều 3. Các nhóm giải pháp chủ yếu

1. Tập trung tuyên truyền, tạo sự chuyển biến thật sự trong nhận thức của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của kinh tế biển, về bảo vệ nguồn lợi thủy sản và bảo vệ môi trường sinh thái biển,  nhằm bảo đảm tính nhất quán và đồng thuận cao trong thực hiện các chủ trương, quyết sách lớn về phát triển các ngành kinh tế biển.

2. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực vùng ven biển, bảo đảm đồng bộ, thống nhất và phù hợp tình hình phát triển trong giai đoạn tới. Kiến nghị điều chỉnh bổ sung quy hoạch bến cảng Ninh Chữ thành cảng tổng hợp, ga đường sắt Cà Ná thành ga hàng hóa, bổ sung tuyến đường sắt kết nối từ ga đến khu công nghiệp Cà Ná và giữ nguyên quy mô, công suất cảng biển quốc tế Cà Ná thuộc quy hoạch nhóm cảng biển Nam Trung bộ (Nhóm 4) theo quy hoạch được duyệt, khai thác hiệu quả tuyến đường ven biển, cảng biển kết nối các hạ tầng về đường sắt, đường bộ, đường biển ..., góp phần tạo đột phá phát triển nhanh và bền vững vùng công nghiệp trọng điểm phía Nam của tỉnh theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

3. Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường biển, làm cơ sở phục vụ cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế biển. Kiến nghị Trung ương tiếp tục điều tra khảo sát tài nguyên biển Ninh Thuận và giúp tỉnh xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ đủ mạnh, tạo đột phá trong phát triển các ngành kinh tế biển. Khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, chuyển giao công nghệ mới trong nuôi trồng thủy sản, nhất là công nghệ sinh học có năng suất và giá trị kinh tế cao, nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến, xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai ứng dụng các giải pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi, phát triển nuôi trồng, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề khai thác, bảo vệ đa dạng sinh học các vùng ven biển gắn với ứng phó có hiệu quả biến đổi khí hậu.

4. Xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành kinh tế biển. Mở rộng hợp tác phát triển kinh tế biển, nhất là đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh trong khu vực duyên hải miền Trung, các tỉnh có tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ mạnh, để đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành kinh tế biển của tỉnh trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

5. Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học vùng biển, tăng cường công tác quốc phòng-an ninh vùng biển. Các hoạt động hành nghề trên biển và ven biển phải được quản lý chặt chẽ, bảo đảm phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, góp phần làm sạch môi trường biển và ven biển.

6. Tập trung huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế biển; ưu tiên nguồn vốn Nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế biển, nhất là hạ tầng đô thị ven biển, giao thông, cấp nước; hạ tầng nuôi trồng thủy hải sản, hậu cần nghề cá; hạ tầng kỹ thuật các khu-cụm công nghiệp ven biển; hỗ trợ phát triển ứng dụng khoa học công nghệ đối với các ngành ưu tiên phát triển của tỉnh; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế biển...

Tiếp tục tập trung thu hút các doanh nghiệp lớn, có năng lực tài chính, có quyết tâm đầu tư; đồng thời, tăng cường công tác hậu kiểm, kiên quyết xử lý các dự án vi phạm tiến độ theo quy định của pháp luật, tạo sự thống nhất trong quản lý và tổ chức thực hiện các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế biển. Có chính sách khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế biển, nhất là hạ tầng cảng biển, hạ tầng các khu-cụm công nghiệp, hạ tầng cấp nước và hạ tầng khu đô thị công nghiệp biển phía Nam của tỉnh... theo hình thức đối tác công-tư (PPP, BOT, BT); bảo đảm thu hút vốn các thành phần kinh tế và khu vực dân cư khoảng 14.000-14.500 nghìn tỷ đồng, chiếm 72-74%.