Điều 2. Chế độ quản lý và sử dụng
1. Chế độ quản lý, sử dụng đối với phí đấu giá, phí tham gia đấu giá tài sản nêu tại khoản 1 Điều 1:
a) Đối với Hội đồng bán đấu giá tài sản: được sử dụng số tiền phí thu được của người tham gia đấu giá để trang trải các chi phí cho Hội đồng đấu giá tài sản, nếu thừa nộp vào ngân sách nhà nước.
b) Đối với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đã được ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí cho việc bán đấu giá thì phải nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào ngân sách Nhà nước theo quy định hiện hành.
c) Đối với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản chưa được ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí cho việc bán đấu giá thì được để lại 90% số tiền phí thu được để trang trải cho việc bán đấu giá và thu phí theo chế độ quy định, 10% còn lại phải nộp vào ngân sách nhà nước và thực hiện việc đăng ký, kê khai chế độ thu nộp và quản lý phí với cơ quan thuế theo đúng quy định của pháp luật.
d) Đối với doanh nghiệp bán đấu giá thì doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đối với số phí thu được và có quyền quản lý, sử dụng số tiền thu phí sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật.
2. Chế độ quản lý, sử dụng đối với phí đấu giá quyền sử dụng đất nêu tại khoản 2 Điều 1:
Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, Hội đồng bán đấu giá được sử dụng số phí thu được để chi trả các chi phí được phép chi, phần còn lại chuyển về cơ quan được giao xử lý việc đấu giá quyền sử dụng đất để thanh toán các nội dung chi còn lại theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16/3/2012 của Bộ Tài chính.