Điều 1. Quy định về khoảng cách và địa bàn làm căn cứ xác định học sinh không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày ở vùng đặc biệt khó khăn; tỷ lệ khoản kinh phí phục vụ việc nấu ăn tập trung cho học sinh trường phổ thông thuộc tỉnh Ninh Bình quản lý như sau:
1. Khoảng cách làm căn cứ xác định học sinh không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày để được hưởng chính sách hỗ trợ học sinh theo quy định tại Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn (sau đây gọi là Nghị định số 116/2016/NĐ-CP)
a) Khoảng cách từ nhà ở đến trường đối với học sinh tiểu học mà bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn quy định tại Khoản 2 Điều này là 4km trở lên.
b) Khoảng cách từ nhà ở đến trường đối với học sinh trung học cơ sở mà bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn quy định tại Khoản 2 Điều này là 7km trở lên.
c) Khoảng cách từ nhà ở đến trường đối với học sinh trung học phổ thông là người dân tộc thiểu số và học sinh trung học phổ thông là người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo mà bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn quy định tại Khoản 2 Điều này là 10km trở lên.
2. Địa bàn làm căn cứ xác định học sinh không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày để được hưởng chính sách hỗ trợ học sinh quy định tại Nghị định số 116/2016/NĐ-CP
a) Học sinh tiểu học, trung học cơ sở mà bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại các xã: Cúc Phương, Kỳ Phú, Phú Long, Quảng Lạc, Thạch Bình của huyện Nho Quan; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang của huyện Kim Sơn theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
b) Học sinh tiểu học, trung học cơ sở mà bản thân và bố, mẹ hoặc người
giám hộ có hộ khẩu thường trú tại: Thôn Sơn Lũy 1, thôn Sơn Lũy 2, thôn Cao
Thắng của xã Đức Long; thôn Hạnh Phúc của xã Gia Sơn; thôn Mỹ Thượng của xã Gia Thủy, thôn Sơn Cao của xã Gia Tường; thôn Bình An của xã Lạc Vân, thôn Đồng An của xã Lạng Phong; thôn 5 của xã Phú Sơn; thôn Xát, thôn Lược của xã Sơn Lai, thôn Đồng Dược của xã Sơn Thành; thôn Mai Vân của xã Thanh Lạc; thôn Hữu Thường 4, thôn Bè Mật của xã Thượng Hòa; thôn Xuân Viên, thôn Bồng Lai của xã Văn Phương; thôn Đức Thành, thôn Hùng Sơn, thôn Hồng Quang, thôn Quyết Thắng, thôn Liên Minh của xã Xích Thổ; thôn Yên Phú, thôn Yên Sơn của xã Yên Quang thuộc huyện Nho Quan.
c) Học sinh trung học phổ thông là người dân tộc thiểu số và học sinh trung học phổ thông là người dân tộc kinh thuộc hộ nghèo mà bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại các xã, thôn (xóm) quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 2 Điều này.
3. Tỷ lệ khoản kinh phí phục vụ việc nấu ăn tập trung cho học sinh trường phổ thông thuộc đối tượng quy định tại Nghị định số 116/2016/NĐ-CP theo thời gian tổ chức nấu ăn thực tế bằng 150% mức lương cơ sở/01 tháng/30 học sinh, số dư từ 15 học sinh trở lên được tính thêm 01 lần định mức nhưng mỗi trường chỉ được hưởng không quá 05 lần định mức khoản quy định tại Khoản này/01 tháng và không quá 09 tháng/01 năm.