Điều 2. Nguyên tắc quản lý, sử dụng nguồn thu
1. Nguồn thu từ giao dịch tín chỉ các-bon thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết này là nguồn thu ngân sách thành phố hưởng 100% và không tính vào số thu cân đối ngân sách địa phương.
2. Nguồn thu từ giao dịch tín chỉ các-bon được thực hiện chi trả bằng tiền Đồng Việt Nam (hoặc áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh của Ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản tiếp nhận nguồn thu ngoại tệ, nếu có); được theo dõi, hạch toán riêng với các nguồn thu khác;
3. Các nội dung chi đảm bảo công khai, minh bạch và không chồng chéo với các khoản chi khác của ngân sách nhà nước.
4. Căn cứ vào nguồn thu của từng chương trình, dự án, căn cứ vào định mức chi được quy định cụ thể cho từng ngành, lĩnh vực, cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nguồn thu này lập kế hoạch sử dụng nguồn thu phát sinh từ giao dịch tín chỉ các-bon báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân thành phố xem xét, quyết định.
5. Việc sử dụng nguồn thu được thực hiện theo thứ tự ưu tiên như sau:
Nguồn thu từ giao dịch tín chỉ các-bon của các chương trình, dự án sau khi trừ đi các chi phí (nếu có) theo quy định (kinh phí đấu giá theo quy định của pháp luật về giá có liên quan; thuế theo quy định của pháp luật về thuế có liên quan; kinh phí hợp lý, hợp lệ khác) được thực hiện theo thứ tự:
a) Trích tối thiểu 30% tổng số tiền thu được để tái đầu tư và phát triển các chương trình, dự án đã tạo ra nguồn thu này theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết này.
b) Trích tối đa 60% tổng số tiền thu được để đầu tư, hỗ trợ các dự án khác, ưu tiên các dự án có khả năng tạo ra tín chỉ các-bon, các dự án ứng dụng khoa học công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân và một số nội dung chi khác theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết này.
c) Trích tối đa 10% tổng số tiền thu được phục vụ công tác quản lý và công tác khác theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết này.