Điều 3. Nguyên tắc thực hiện
1. Nguyên tắc chung:
a) Bảo đảm đúng thẩm quyền, căn cứ, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý theo quy định tại Nghị quyết này, phù hợp các nguyên tắc của pháp luật hiện hành, không trái với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới; kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết này để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che hành vi vi phạm;
c) Bảo đảm phù hợp với thực tiễn khách quan, hoàn cảnh lịch sử cụ thể; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, lợi ích chính đáng của bên thứ ba ngay tình trong lợi ích tổng thể của quốc gia theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
2. Việc áp dụng các quy định tại Chương II của Nghị quyết này bảo đảm các nguyên tắc tại khoản 1 Điều này và các nguyên tắc sau:
a) Xác định rõ vai trò, động cơ, mục đích của tổ chức, cá nhân vi phạm, nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt hại, kết quả khắc phục hậu quả, tài liệu, chứng cứ để kết luận về hành vi tham nhũng và hiệu quả về chính trị, kinh tế - xã hội của dự án, công trình; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; khẩn trương kết luận, xử lý, không để kéo dài đối với những vụ án, vụ việc có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và quyết định xử lý theo quy định của Nghị quyết này;
b) Phân định rõ việc xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm với các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khắc phục hậu quả (nếu có) đối với từng dự án, công trình để sớm đưa đất đai vào khai thác, sử dụng hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí;
c) Không áp dụng các quy định trong Nghị quyết này để xem xét lại những quyết định xử lý kỷ luật, bản án hình sự đã có hiệu lực đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.
3. Việc áp dụng các quy định tại Chương III của Nghị quyết này bảo đảm các nguyên tắc tại khoản 1 Điều này và các nguyên tắc sau:
a) Chỉ xem xét, xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án mà nguyên nhân dẫn đến vi phạm, sai phạm do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước hoặc do lỗi của cả cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư, chủ đầu tư. Việc tháo gỡ vướng mắc cho các dự án hạn chế tối đa các khiếu kiện, nhất là các dự án có yếu tố nước ngoài; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình;
b) Việc áp dụng chính sách để tháo gỡ cho các dự án khó khăn, vướng mắc bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
bảo đảm nguyên tắc nhà đầu tư, chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không ảnh hưởng tới an ninh, quốc phòng; bảo đảm năng lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định của pháp luật;
c) Cho phép xử lý tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đồng thời với quá trình xử lý trách nhiệm theo các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, bảo đảm không làm phát sinh sai phạm mới và có phương án khắc phục thiệt hại.