Điều 6. Chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố khi nghỉ việc
1. Người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố được hưởng chế độ trợ cấp nghỉ việc khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có nguyện vọng xin nghỉ việc và được cơ quan hoặc người có thẩm quyền đồng ý theo quy định.
b) Được bầu cử, phê chuẩn giữ chức danh theo nhiệm kỳ mà khi kết thúc nhiệm kỳ không đủ tiêu chuẩn để tái cử hoặc tham gia tái ứng cử nhưng không trúng cử theo quy định;
c) Không đáp ứng tiêu chuẩn đối với chức danh đang đảm nhiệm theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
2. Các trường hợp không áp dụng:
a) Người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố đang bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; tự ý nghỉ việc, bỏ việc; các trường hợp cho thôi làm Trưởng ấp, khóm, khu phố theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 59/2023/NĐ-CP ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
b) Người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố thuộc đối tượng thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo quy định của Chính phủ.
3. Trợ cấp nghỉ việc và mức phụ cấp để tính hưởng trợ cấp nghỉ việc.
a) Người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố chưa đến tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu, khi nghỉ việc được hưởng chế độ mỗi năm công tác bằng 1,5 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng, đồng thời còn được hưởng thêm các chế độ sau:
Được trợ cấp 03 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng để tìm việc làm.
Trường hợp có dưới 05 năm công tác thì được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với số tháng công tác.
Trường hợp có từ đủ 05 năm công tác trở lên và có tuổi đời từ đủ 05 năm trở lên đến tuổi nghỉ hưu thì được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với 60 tháng.
Trường hợp có từ đủ 05 năm công tác trở lên và có tuổi đời còn dưới 05 năm đến tuổi nghỉ hưu thì được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với số tháng nghỉ sớm so với tuổi nghỉ hưu.
b) Đối với người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP hoặc đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động thì được hưởng chế độ trợ cấp một lần bằng 15 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng.
c) Mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng của người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố là phụ cấp của tháng liền kề trước khi nghỉ việc do ngân sách trung ương khoán quỹ phụ cấp để chi trả (không tính phụ cấp kiêm nhiệm và mức hỗ trợ theo bằng cấp chuyên môn).
4. Thời gian công tác được tính trợ cấp nghỉ việc
Thời gian công tác được tính trợ cấp nghỉ việc quy định tại điểm a khoản 3 Điều này là tổng thời gian công tác giữ chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở ấp, khóm, khu phố theo quy định của cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa hưởng trợ cấp nghỉ việc. Trường hợp thời gian để tính trợ cấp theo số năm công tác quy định tại điểm a khoản 3 Điều này nếu có số tháng lẻ thì được tính tròn theo nguyên tắc: từ 01 tháng đến đủ 06 tháng tính là 0,5 năm và được hưởng trợ cấp bằng mức trợ cấp của 0,5 năm; từ trên 06 tháng đến dưới 12 tháng tính tròn là 01 năm; nếu có thời gian công tác không liên tục thì được cộng dồn.
5. Người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố khi nghỉ việc và được hưởng trợ cấp nghỉ việc theo quy định tại khoản 3 Điều này nếu được bầu cử, tuyển dụng lại vào các cơ quan, tổ chức, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc bố trí làm người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố trong thời gian 60 tháng kể từ ngày nghỉ, hưởng chế độ trợ cấp nghỉ việc thì phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp đã nhận cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chi trả trợ cấp.