vanban.org

Điều 2. Nội dung đổi mới cụ thể (có Đề án kèm theo), với một số đổi mới chủ yếu như sau: — Nghị quyết 25/2012/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/02/2017
Trà Vinh Ban hành 08/12/2012 Hiệu lực 19/12/2012 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 25/2012/NQ-HĐND › Điều 2
Đọc toàn văn

Điều 2. Nội dung đổi mới cụ thể (có Đề án kèm theo), với một số đổi mới chủ yếu như sau:

1. Tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân

a) Thực hiện việc cải tiến cách thức tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân, tập trung nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị nội dung, chương trình, các báo cáo, tờ trình, dự thảo Nghị quyết trình Hội đồng nhân dân; tăng cường hoạt động giữa 2 kỳ họp của đại biểu Hội đồng nhân dân, Thường trực, các Ban Hội đồng nhân dân. Thường trực và các Ban Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cơ quan, tổ chức hữu quan phải thực hiện tốt công tác chuẩn bị kỳ họp, tập trung cho việc xác định nội dung, chương trình, xây dựng các báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết trình kỳ họp đảm bảo chất lượng, chặt chẽ, khả thi, đúng quy trình, thủ tục và nhất là phải đúng thời gian luật định (chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, các dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trình Hội đồng nhân dân tại kỳ họp phải được gửi tới Thường trực, các Ban Hội đồng nhân dân); trường hợp gởi chậm sẽ không đưa vào chương trình nghị sự của kỳ họp HĐND tỉnh.

Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các Sở ngành, các cơ quan tham mưu làm tốt công tác chuẩn bị các nội dung trình kỳ họp đã được phân công, đảm bảo chặt chẽ, đúng trình tự thủ tục luật định.

b) Chuẩn bị chương trình kỳ họp Hội đồng nhân dân theo hướng chủ động, tích cực. Chỉ đưa vào chương trình kỳ họp để Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định những vấn đề đã được chuẩn bị chu đáo về nội dung, bảo đảm đúng thời hạn, thẩm quyền, quy trình, thủ tục luật định; không đưa vào chương trình kỳ họp những nội dung chưa đạt yêu cầu, chuẩn bị chưa chu đáo và gởi đến Thường trực Hội đồng nhân dân chậm so với thời gian luật định; hạn chế tối đa việc xin ý kiến Hội đồng nhân dân những sự vụ, sự việc nhất là vấn đề điều chỉnh, bổ sung ngân sách, trừ những vấn đề bức xúc, cấp thiết; Thường trực Hội đồng nhân dân không đưa quá nhiều nội dung vào một kỳ họp (một kỳ họp trình Hội đồng nhân dân thông qua không quá 20 tờ trình).

Các Tổ đại biểu và đại biểu Hội đồng nhân dân căn cứ vào các Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chương trình xây dựng nghị quyết, chương trình giám sát hàng năm của Hội đồng nhân dân, Thường trực, các Ban Hội đồng nhân dân và dự kiến chương trình các kỳ họp Hội đồng nhân dân để xây dựng kế hoạch hoạt động phù hợp, sát với yêu cầu thực tế của địa phương. Trước kỳ họp các Tổ đại biểu phải họp Tổ để nghiên cứu tài liệu, phân công việc chuẩn bị ý kiến phát biểu và ý kiến chất vấn đạt chất lượng; từng đại biểu tích cực nghiên cứu tài liệu, chủ động thu thập thông tin trước khi họp Tổ, chuẩn bị ý kiến đối với những vấn đề mình am hiểu, quan tâm và theo sự phân công của Tổ.

c) Bố trí thời gian làm việc của kỳ họp khoa học, hợp lý, phù hợp với khối lượng công việc kỳ họp phải thông qua, dành thời gian thỏa đáng cho việc thảo luận, chất vấn - trả lời chất vấn và giải trình các kiến nghị của cử tri; trong các kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân nhất thiết phải dành thời gian và bố trí việc thảo luận ở tổ để việc xem xét, quyết định các vấn đề thuộc nội dung kỳ họp đạt chất lượng cao hơn. Xem xét, thảo luận các báo cáo về kinh tế - xã hội, các đề án, báo cáo khác tại kỳ họp Hội đồng nhân dân theo hướng trình bày tóm tắt (kể cả báo cáo tổng hợp ý kiến kiến nghị của cử tri), rút ngắn thời gian trình bày văn bản xuống còn khoảng từ 15 đến 20 phút (trừ báo cáo tình hình KT - XH của Ủy ban nhân dân, báo cáo thẩm tra về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước). Thời gian phát biểu của đại biểu tại hội trường lần đầu không quá 10 phút, lần sau không quá 7 phút.

Báo cáo thẩm tra của các Ban cần phải tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật; cần viết ngắn gọn, tập trung phân tích, đưa ra các kiến nghị về các nội dung được nêu trong báo cáo, tờ trình; nội dung nào không đồng ý hoặc đề nghị bổ sung thì nêu cơ sở, lập luận, lý lẽ cụ thể; đồng thời nêu rõ những vấn đề quan trọng, còn ý kiến khác nhau và đề xuất phương án xử lý; báo cáo thẩm tra phải thể hiện chính kiến, có tính phản biện và phải bảo vệ quan điểm của mình đối với những vấn đề không phù hợp với quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân tỉnh cần tạo điều kiện cho các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh tham gia góp ý ngay từ khi xây dựng dự thảo các báo cáo, tờ trình về các nội dung dự kiến sẽ trình thông qua tại kỳ họp và căn cứ chương trình xây dựng nghị quyết hàng năm của HĐND tỉnh, các Ban chủ động đi khảo sát về những nội dung quan trọng, bức xúc mà mình quan tâm, làm cơ sở để thẩm tra các tờ trình của Ủy ban nhân dân tỉnh.

d) Xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân theo hướng: trước kỳ họp, Thường trực Hội đồng nhân dân phối hợp với Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức hữu quan dự kiến các nội dung trình Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết và cơ quan chủ trì xây dựng dự thảo nghị quyết. Đối với các nội dung về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, quốc phòng an ninh, công trình, dự án quan trọng,..., cơ quan trình phải dự thảo nghị quyết cùng với dự án, đề án, báo cáo, tờ trình, đặc biệt là phải đảm bảo đúng pháp luật và trình tự thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đối với các tờ trình xét thấy không khả thi, thiếu cơ sở pháp lý sẽ không trình ra Hội đồng nhân dân.

2. Chất vấn và trả lời chất vấn

a) Chất vấn tại kỳ họp: Thường trực Hội đồng nhân dân gởi phiếu chất vấn cho đại biểu cùng với giấy triệu tập kỳ họp; bố trí phiên chất vấn vào cuối kỳ họp để đại biểu Hội đồng nhân dân có thời gian chuẩn bị câu hỏi chất vấn. Các vị đại biểu Hội đồng nhân dân cần chủ động, tích cực thực hiện quyền chất vấn của mình trong phiên chất vấn và trở thành quy định trách nhiệm của mỗi Tổ đại biểu phải có ít nhất có 3 nội dung chất vấn tại mỗi kỳ họp; chất vấn được thực hiện bằng phiếu hoặc chất vấn trực tiếp qua đối thoại; đại biểu Hội đồng nhân dân cần đầu tư nghiên cứu, thu thập đầy đủ thông tin liên quan đến vấn đề mà mình chất vấn để ý kiến chất vấn có chất lượng và mang tính thuyết phục hơn; câu hỏi chất vấn phải ngắn gọn, rõ ý, đúng trọng tâm, không giải thích dài hoặc chỉ hỏi để biết thông tin, tập trung vào các thông tin quan trọng như: trách nhiệm thuộc về ai, giải pháp sắp tới là gì, thời gian nào thực hiện xong,... Thường trực Hội đồng nhân dân lựa chọn một số vấn đề bức xúc, nổi cộm mà dư luận xã hội, cử tri và đại biểu Hội đồng nhân dân quan tâm (đã được đại biểu gởi phiếu chất vấn), dự kiến danh sách những người trả lời chất vấn kết hợp với giải trình ý kiến kiến nghị của cử tri gửi xin ý kiến các vị đại biểu Hội đồng nhân dân và thông báo trước để đại biểu có thời gian chuẩn bị câu hỏi trực tiếp đối với người trả lời chất vấn.

b) Trả lời chất vấn tại kỳ họp: Tại phiên chất vấn, người trả lời chất vấn trả lời ngắn gọn, trực tiếp vào nội dung trọng tâm câu hỏi, tránh giải thích không đi vào nội dung, thời gian trả lời theo yêu cầu của chủ tọa. Sau khi người trả lời chất vấn trả lời xong câu hỏi chất vấn, các đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền đặt câu hỏi trực tiếp với người trả lời chất vấn theo hướng đối thoại, tranh luận làm rõ từng vấn đề được chất vấn; những vấn đề nào chưa trả lời tại kỳ họp được thì Chủ tọa yêu cầu cơ quan, cá nhân được chất vấn trả lời bằng văn bản cho đại biểu có ý kiến chất vấn.

c) Chất vấn và giải trình tại cuộc họp của Thường trực Hội đồng nhân dân: hàng năm tổ chức ít nhất 2 lần chất vấn và giải trình giữa 2 kỳ họp Hội đồng nhân dân tại cuộc họp của Thường trực Hội đồng nhân dân về những vấn đề Thường trực Hội đồng nhân dân quan tâm. Tổ chức phát trên Đài truyền hình, thông tin công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về hoạt động chất vấn, giải trình để nhân dân theo dõi.

3. Hoạt động giám sát

a) Hàng năm, Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân thông qua Chương trình giám sát tại kỳ họp cuối năm trước để có thời gian, điều kiện triển khai thực hiện. Tổ chức giám sát ít nhất 1 chuyên đề tại mỗi kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân để đại biểu Hội đồng nhân dân phát huy quyền giám sát tại kỳ họp bằng việc đặt những câu hỏi trực tiếp xung quanh chuyên đề giám sát tại kỳ họp. Tăng các hoạt động giám sát chuyên đề của các Ban Hội đồng nhân dân giữa 2 kỳ họp. Nội dung giám sát tập trung vào những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc, được dư luận xã hội, cử tri và các vị đại biểu Hội đồng nhân dân quan tâm. Tăng cường giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp; việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; việc thực hiện các dự án, công trình XDCB trên địa bàn; việc chi tiêu ngân sách nhà nước,...

b) Căn cứ vào chương trình giám sát hàng năm của Hội đồng nhân dân, Thường trực, các Ban và Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động giám sát và mời các đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia hoạt động giám sát tại các địa bàn đại biểu ứng cử. Thường trực Hội đồng nhân dân chỉ đạo, điều hòa, phối hợp việc tổ chức các hoạt động giám sát của Thường trực và các Ban Hội đồng nhân dân, tránh sự trùng lắp, chồng chéo, bảo đảm trong cùng một thời điểm chỉ có một đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân tại một cơ quan, đơn vị, địa phương, cơ sở. Các đoàn giám sát đến làm việc tại cơ quan, đơn vị, địa phương, cơ sở phải gởi sớm chương trình, kế hoạch làm việc, xác định cụ thể nội dung công việc nhằm nâng cao chất lượng giám sát, thành phần đoàn giám sát phải thiết thực, gọn nhẹ, thông hiểu được công việc; báo cáo giám sát phải trung thực, khách quan, có kiến nghị, đề xuất qua giám sát. Đặc biệt là phải theo dõi, đôn đốc hậu giám sát. Các đơn vị được giám sát và các đơn vị có liên quan phải thực hiện nghiêm túc các kiến nghị của đoàn giám sát, chậm nhất không quá 60 ngày các đơn vị phải có báo cáo trả lời việc thực hiện các kiến nghị của đoàn giám sát, nếu đơn vị không khắc phục theo kiến nghị của Đoàn giám sát thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý và báo cáo với Hội đồng nhân dân tại kỳ họp gần nhất.

4. Hoạt động tiếp xúc cử tri

a) Tổ chức nhiều hoạt động và hình thức tiếp xúc cử tri phù hợp, bảo đảm để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở đơn vị bầu cử, nơi cư trú, nơi công tác; mở rộng việc đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được tiếp xúc cử tri luân phiên ở các huyện, các xã không phải nơi mình ứng cử; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu quan tâm. Khi tổ chức tiếp xúc cử tri, cần kết hợp chặt chẽ giữa Hội đồng nhân dân các cấp với tinh thần khoa học và phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương để giảm bớt thời gian cho nhân dân. Nội dung chuẩn bị cho cuộc tiếp xúc cử tri phải thật sự cô đọng và chất lượng, gắn nội dung tiếp xúc cử tri của đại biểu với việc chuẩn bị kỳ họp Hội đồng nhân dân; hình thức tiếp xúc cử tri phải chu đáo, nghiêm trang, có khẩu hiệu, bảng tên đại biểu Hội đồng nhân dân.

b) Thông báo công khai nội dung, chương trình, lịch tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân trên phương tiện thông tin đại chúng từ tỉnh đến huyện - thành phố và xã, phường, thị trấn trước từ 5 đến 7 ngày để nhân dân biết tham dự; tạo điều kiện thuận lợi để cử tri có thể tham dự các cuộc tiếp xúc cử tri; bảo đảm để đại biểu Hội đồng nhân dân trực tiếp gặp gỡ với cử tri. Đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị chức năng của từng cấp có trách nhiệm tham dự để tiếp thu, giải trình, trả lời kiến nghị của cử tri đối với những vấn đề có liên quan.

c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh phối hợp chặt chẽ với Thường trực Hội đồng nhân dân và có trách nhiệm điều hành, tổ chức Tổ thư ký cho các cuộc tiếp xúc cử tri để theo dõi tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, từ đó phân rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc trả lời và thực hiện nghiêm túc các kiến nghị của cử tri. Trong tổng hợp ý kiến kiến nghị của cử tri cần sàng lọc kỹ nội dung thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, đưa ra kỳ họp Hội đồng nhân dân để các cấp, các ngành trả lời và qua đó Mặt trận Tổ quốc thực hiện chất vấn, giám sát.

5. Công tác tiếp công dân

a) Thực hiện tốt công tác tiếp công dân theo quy định tại Điều 53 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và Điều 48 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ngày 02/4/2005 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI.

Tích cực tham gia, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành chức năng thực hiện việc tiếp công dân định kỳ tại trụ sở tiếp công dân tỉnh theo quy định.

 b) Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức việc tiếp công dân định kỳ 1 ngày/tháng và thông báo rộng rãi lịch tiếp công dân hàng tháng của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh để nhân dân biết đăng ký tham dự. Khi tổ chức tiếp công dân, tùy theo nội dung và tính chất của khiếu nại, tố cáo, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh sẽ mời đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Thanh tra tỉnh và các Sở ngành hữu quan cùng tham dự để nâng cao chất lượng tiếp công dân.

6. Công tác bảo đảm cho hoạt động của HĐND

a) Công tác báo chí, tuyên truyền: Phối hợp với Đài Phát thanh Truyền hình Trà Vinh xây dựng chuyên mục hoạt động của Hội đồng nhân dân mỗi tháng phát 1 lần và gắn với chuyên mục “nghe người dân nói” của Đài Phát thanh Truyền hình Trà Vinh để thông tin về các hoạt động của Hội đồng nhân dân; đồng thời phối hợp với Báo Trà Vinh xây dựng chuyên trang về hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp. 

b) Lập kế hoạch trang bị máy tính (laptop) phục vụ hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh để nâng cao chất lượng hoạt động của người đại biểu nhân dân.

c) Kiện toàn bộ máy cơ quan tham mưu, giúp việc theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả; tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng của đội ngũ chuyên viên, phục vụ có hiệu quả các hoạt động của Hội đồng nhân dân, Thường trực, các Ban và đại biểu Hội đồng nhân dân.