Điều 16. Tiêu chí của thôn, tổ dân phố
1. Quy mô số hộ gia đình:
a) Thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên;
b) Tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên.
2. Trường hợp Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định tổ chức hoặc sử dụng tên gọi cộng đồng dân cư theo khoản 2, khoản 4 Điều 2 Nghị quyết này thì áp dụng tiêu chí quy mô số hộ gia đình tương ứng với loại hình thôn hoặc tổ dân phố quy định tại khoản 1 Điều này; trường hợp tên gọi truyền thống không thuộc tên gọi thôn hoặc tổ dân phố thì phải xác định rõ loại hình tương ứng để áp dụng tiêu chí, chế độ, chính sách và trình tự, thủ tục quản lý thống nhất.
3. Đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù như địa bàn miền núi, xã miền núi, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thôn đặc biệt khó khăn; địa bàn có địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, dân cư sinh sống phân tán; khu vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư; khu dân cư biệt lập, cồn trên sông; địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, trật tự hoặc trường hợp đặc thù khác của Thủ đô cần được xem xét trên cơ sở yêu cầu quản lý và điều kiện thực tế của địa bàn thì quy mô số hộ gia đình có thể thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Trường hợp thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí quy mô số hộ gia đình theo khoản 1 Điều này nhưng thuộc trường hợp đặc thù quy định tại khoản 3 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải lập phương án, báo cáo giải trình cụ thể về sự cần thiết, điều kiện thực tế, yêu cầu quản lý, mức độ ổn định và gắn kết cộng đồng dân cư, ý kiến Nhân dân và gửi Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định theo thẩm quyền; không giao Ủy ban nhân dân cấp xã tự quy định tiêu chí mới ngoài khung quy định tại Nghị quyết này.