vanban.org

Điều 1. Thông qua việc đầu tư, bảo tồn, tôn tạo, chống xuống cấp hệ thống di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2013 - 2020, với các nội dung chính sau: — Nghị quyết 17/2013/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2021
Quảng Trị Ban hành 31/07/2013 Hiệu lực 31/07/2013 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 17/2013/NQ-HĐND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Thông qua việc đầu tư, bảo tồn, tôn tạo, chống xuống cấp hệ thống di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2013 - 2020, với các nội dung chính sau:

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu chung

Ngăn chặn có hiệu quả tình trạng xuống cấp của hệ thống di tích và nguy cơ mất mát, hư hỏng của di tích. Nâng cao tính bền vững, đảm bảo sự tồn tại lâu dài của hệ thống di sản này.

Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống di tích trên địa bàn, thực hiện tốt công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích, lưu giữ truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc. Tạo ra những sản phẩm đặc thù có giá trị lịch sử văn hóa giáo dục truyền thống, phục vụ nhu cầu hưởng thụ của các tầng lớp nhân dân và phát triển du lịch.

Huy động mọi nguồn lực của Nhà nước và toàn xã hội để bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng, nâng cao lòng tự hào dân tộc, giới thiệu quảng bá hình ảnh mảnh đất, con người Quảng Trị, kết hợp với việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.

2. Mục tiêu cụ thể

- Đến 2015, 100% di tích của tỉnh được kiểm kê, hoàn thành việc cắm mốc chỉ giới khoanh vùng bảo vệ và được cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất;

- Đến 2020, 100% di tích cấp tỉnh hoàn thành việc xây dựng bia, biển;

- Đến 2020, 100% di tích quốc gia đã phân cấp cho các huyện, thị, thành phố quản lý, khai thác sử dụng và một số di tích cấp tỉnh tiêu biểu được đầu tư phục dựng, tôn tạo;

- Hoàn thành việc quy hoạch, đầu tu tôn tạo các hạng mục còn lại của các di tích quan trọng như: Thành Cổ Quảng Trị, Nhà đày Lao Bảo, Khu Lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn, Địa đạo Vịnh Mốc, đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải, Căn cứ Dốc Miếu và Hàng rào điện tử Mc Namara;

- Tiếp tục nghiên cứu, kiểm kê lập hồ sơ xếp hạng di tích cấp tỉnh, nâng hạng các di tích cấp tỉnh có đủ tiêu chí lên di tích quốc gia. Đến năm 2014 hoàn thành 04 hồ sơ công nhận di tích quốc gia đặc biệt: Thành Cổ Quảng Trị và các di tích liên quan sự kiện 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ, Khu Lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn, Địa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải.

II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

1. Về đầu tư và cơ chế thực hiện

a) Các di tích cấp quốc gia

- Các di tích quốc gia tiêu biểu (gồm 10 di tích): trong đó có 06 di tích tiếp tục đầu tư là: Thành Cổ Quảng Trị, Nhà đày Lao Bảo, Khu Lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn, Địa đạo Vịnh Mốc, đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải, Căn cứ Dốc Miếu và Hàng rào điện tử Mc Namara; và 04 di tích đầu tư mới là: cảng Quân sự Đông Hà, các điểm vượt Đường 9 của hệ thống đường Hồ Chí Minh, địa điểm xuất phát đường dây 559, địa điểm trận địa tên lửa bắn rơi máy bay B52 đầu tiên ở Việt Nam: thực hiện lập dự án “Quy hoạch tổng thể đầu tư tôn tạo hệ thống di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014 - 2020" trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và bố trí ngân sách Trung ương kết hợp với ngân sách đối ứng của tỉnh và xã hội hóa để đầu tư.

- Các di tích quốc gia khác (gồm 13 di tích) đã được phân cấp cho UBND huyện, thị, thành phố trực tiếp quản lý, thực hiện huy động nguồn vốn từ dự án chống xuống cấp, tu bổ và tôn tạo của Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, các nguồn hỗ trợ khác của Trung ương được phân bổ hàng năm cho tỉnh và nguồn đối ứng từ ngân sách tỉnh, theo tỷ lệ: 50/50.

b) Các di tích cấp tỉnh

Các di tích cấp tỉnh đã được phân cấp cho các UBND huyện, thị xã, thành phố và UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý, sử dụng bao gồm 351 di tích được phân chia thành 03 nhóm đầu tư như sau:

+ Nhóm đầu tư có quy mô đầu tư tôn tạo, phục dựng giá trị công trình tối thiểu từ 200 - 300 triệu đồng/di tích (gồm 23 di tích): huy động nguồn lực đầu tư theo hình thức ngân sách tỉnh: 50%, ngân sách huyện, thị xã, thành phố: 30%, ngân sách xã, phường, thị trấn và xã hội hóa: 20%;

+ Nhóm đầu tư dựng bia, đài di tích, giá trị tối thiểu 50 triệu đồng/di tích (gồm 67 di tích): huy động nguồn lực theo hình thức: ngân sách huyện, thị xã, thành phố: 70%; và xã hội hóa: 30%;

- Nhóm đầu tư cắm biển di tích giá trị tối thiểu 20 triệu đồng/di tích (gồm 261 di tích): huy động nguồn lực theo hình thức: ngân sách xã, phường, thị trấn và huy động xã hội hóa.

(Phụ lục I, II, III)

2. Tập trung chỉ đạo các ngành và chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội thực hiện tốt công tác tuyên truyền về ý nghĩa của các di tích lịch sử, văn hóa nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích. Thực hiện lồng ghép các cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa với việc bảo tồn, phát huy các giá trị di tích trên địa bàn. Vận động mỗi đơn vị, tập thể nhận giữ gìn, bảo tồn đối với một địa chỉ di tích.

3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với việc quản lý và phát huy các di tích trên địa bàn. Tập trung chỉ đạo thực hiện việc kiểm kê hồ sơ di tích, khoanh vùng bảo vệ, cắm mốc chỉ giới, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các di tích hoàn thành trước năm 2015. Rà soát và đề xuất chính xác về tên gọi, hoàn thành hồ sơ công nhận di tích đặc biệt cấp quốc gia, báo cáo cơ quan có thẩm quyền để trình Thủ tướng Chính phủ công nhận.

4. Hàng năm trình HĐND tỉnh quyết định đầu tư đối với các di tích, trong đó ưu tiên đầu tư tôn tạo bằng ngân sách nhà nước các cấp và các nguồn huy động hợp pháp khác đối với các di tích thuộc loại hình lịch sử (cách mạng kháng chiến) và di tích khảo cổ quan trọng, những di tích có tác động trực tiếp đến công tác giáo dục truyền thống cách mạng và các di tích phục vụ hoạt động du lịch. Ưu tiên bố trí đầu tư đối với các địa phương có số lượng lớn các di tích lịch sử cách mạng trong danh mục đầu tư.

Gắn đầu tư tôn tạo với bảo vệ, quản lý khai thác và phát huy giá trị các di tích. Công tác trùng tu, tôn tạo, dựng bia, biển các di tích phải được thực hiện bằng các vật liệu có độ bền vững cao, đảm bảo tính chân thực, chính xác về nội dung, ý nghĩa lịch sử; đẹp về hình thức, trang trọng về cách thể hiện, thực hiện đúng theo Luật Di sản văn hóa và các quy định hiện hành.

5. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động các nguồn lực đối với việc đầu tư, tu bổ, tôn tạo các di tích bằng nhiều hình thức. Coi trọng xây dựng chương trình các lễ hội văn hóa, lễ hội cách mạng gắn với phát huy giá trị di tích với các quy mô thích hợp, có chiều sâu để tránh chồng chéo, lãng phí.

III. NHU CẦU KINH PHÍ VÀ PHÂN KỲ ĐẦU TƯ

- Nhu cầu kinh phí cần thiết để tôn tạo, tu bổ hệ thống di tích gồm: các di tích quốc gia được phân cấp cho huyện, thị xã, thành phố quản lý; các di tích cấp tỉnh phân cấp cho UBDN các huyện, thị xã, thành phố và UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý (không tính các di tích quốc gia tiêu biểu do tỉnh quản lý mà Trung ương đầu tư) đến năm 2020, như sau:

Tổng kinh phí:
Trong đó:
- Ngân sách trung ương:
- Ngân sách tỉnh:
- Ngân sách cấp huyện:
- Ngân sách xã và xã hội hóa: 7,6 tỷ đồng;
38,07 tỷ đồng


11,3 tỷ đồng;
14,75 tỷ đồng;
4,42 tỷ đồng;

- Phân kỳ đầu tư các di tích quốc gia, cấp tỉnh được phân cấp cho UBND các huyện, thị xã, thành phố; xã, phường, thị trấn quản lý như sau:

Đơn vị tính: di tích

TTNội dungThời gian thực hiệnTổng số
20132014201520162017201820192020
1Di tích quốc gia010105030302010117
2Di tích cấp tỉnh10401004040404041351

(Phụ lục IV, V)