Điều 3. Giải pháp chủ yếu thực hiện công tác dân số, gia đình và trẻ em đến năm 2010.
1. Đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân số, gia đình và trẻ em tới các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị, kinh tế - xã hội và toàn thể nhân dân.
2. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác dân số, gia đình và trẻ em đảm bảo thống nhất, đủ mạnh từ thành phố đến cơ sở. Thực hiện nghiêm túc các quy định của Chính phủ, Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em Việt Nam, Uỷ ban nhân dân thành phố về tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em các cấp. Kiện toàn Ban Dân số Gia đình và Trẻ em cấp xã do Chủ tịch (hoặc Phó Chủ tịch) Uỷ ban nhân dân làm trưởng ban. Các cấp chính quyền phải bảo đảm đủ số lượng cán bộ theo quy định để Uỷ ban Dân số Gia đình và trẻ em thành phố và quận, huyện, thị đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ. Bố trí cộng tác viên phù hợp với từng địa bàn theo quy định của ngành.
3. Cùng với nguồn ngân sách trung ương bố trí theo chương trình mục tiêu quốc gia, hàng năm ngân sách thành phố ưu tiên tăng chi cho chương trình dân số, gia đình và trẻ em tương ứng tăng thu ngân sách địa phương, cân đối với tăng chi các chế độ, chính sách mới ban hành và tăng chi phụ cấp hàng tháng cho cán bộ dân số gia đình, trẻ em xã, phường, thị trấn không vượt quá mức lương tối thiểu của cán bộ công chức ngạch hành chính; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định. Chế độ đối với cộng tác viên phụ trách địa bàn do Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định cân đối với chế độ cán bộ ở cơ sở ở các lĩnh vực. Cấp huyện và cấp xã cân đối ngân sách của địa phương cho công tác dân số, gia đình và trẻ em đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu của địa phương. Ngân sách thành phố và cấp huyện, xã trên cơ sở tăng thu, quan tâm có hỗ trợ kinh phí hàng năm cho Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp để Quỹ làm tốt việc giúp đỡ các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
4. Bố trí quỹ đất xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các điểm vui chơi, giải trí cho trẻ em theo quy định. Có biện pháp giải quyết những điểm vui chơi giải trí cho trẻ em hiện đang bị lấn chiếm, sử dụng sai mục đích đưa vào sử dụng đúng mục đích phục vụ vui chơi giải trí của trẻ em. Trong qui hoạch phát triển đô thị nhất thiết phải có quy hoạch các điểm hoạt động văn hoá, vui chơi, giải trí cho trẻ em. Thành phố có cơ chế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cho hoạt động vui chơi, giải trí cho trẻ em, chú trọng vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
5. Xây dựng và ban hành quy chế khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc về công tác dân số, gia đình, trẻ em. Đồng thời xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm chính sách dân số, gia đình, trẻ em theo quy định của pháp luật; kiên quyết không đề cử, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ và xem xét đưa ra khỏi chức vụ lãnh đạo đối với những cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chính sách dân số, gia đình, trẻ em.
Thông qua hệ thống chính trị ở cơ sở, các làng văn hoá, khu dân cư văn hoá tạo dư luận xã hội phê phán mạnh mẽ các đối tượng vi phạm chính sách dân số, gia đình, trẻ em và có biện pháp xử lý kịp thời. Việc thực hiện chính sách dân số, gia đình, trẻ em phải là một trong những tiêu chuẩn xét công nhận gia đình văn hoá, khu dân cư văn hóa, làng văn hoá. Uỷ ban nhân dân thành phố chỉ đạo các ngành chức năng hướng dẫn cụ thể về việc này.