Điều 1. Hội đồng nhân dân tỉnh cơ bản tán thành nội dung báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan hữu quan:
1. Số người tham gia bảo hiểm xã hội (đơn vị tính: người)
- Số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc: 219.000 người;
- Số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện: 5.228 người;
- Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp: 210.061 người.
2. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội (đơn vị tính: %)
- Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đạt 31,26% tổng số lực lượng lao động của tỉnh;
- Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 0,74% tổng số lực lượng lao động của tỉnh;
10 CÔNG BÁO HƯNG YÊN/Số 05/Ngày 10-4-2019
- Tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 29,98% tổng số lực lượng lao động của tỉnh.
3. Tốc độ phát triển số người tham gia bảo hiểm xã hội (đơn vị tính: %)
- Tốc độ phát triển số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc: 9,46%;
- Tốc độ phát triển số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện: 277,75%;
- Tốc độ phát triển số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp: 14,15%.
- Năm 2018, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế và nhân dân trong tỉnh, tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 đạt được kết quả khá toàn diện.
- Tổng sản phẩm (GRDP) tăng 9,64%. Tổng sản phẩm bình quân đầu người đạt 55,3 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp, xây dựng 51,56% - dịch vụ 37,86% - nông nghiệp, thủy sản 10,58%. Sản xuất nông nghiệp được mùa, được giá, giá trị sản xuất tăng 3,5%. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 92.523 ha; diện tích trồng lúa 66.399 ha, giảm 5,65%, lúa chất lượng cao chiếm 64,8% diện tích gieo cấy; năng suất lúa bình quân 62,56 tạ/ha, tăng 5,18%; sản lượng lúa ước 415.420 tấn, giảm 0,76%. Sản lượng một số loại cây trồng chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Giá trị thu nhập bình quân 01 ha đất canh tác đạt 192 triệu đồng, tăng 18,5 triệu đồng so với năm 2017. Chăn nuôi từng bước ổn định, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 2,5%, sản lượng thủy sản tăng 5,42%. Công tác phòng, chống bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được triển khai hiệu quả. Công tác thuỷ lợi, quản lý đê điều và phòng chống lụt bão được thực hiện nghiêm túc. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực, dự kiến huyện Văn Giang đạt chuẩn nông thôn mới và thành phố Hưng Yên hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, toàn tỉnh có 117/145 xã đạt chuẩn nông thôn mới chiếm 80,7%, bình quân đạt 18,4 tiêu chí/xã. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 10,93%. Giá trị sản xuất thương mại và dịch vụ tăng 8,19%. Kim ngạch xuất khẩu tăng 15,49%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 4,5%. Năm 2018, thu hút 157 dự án mới (trong đó: có 129 dự án trong nước, 28 dự án đầu tư nước ngoài) với số vốn đăng ký 10.421 tỷ đồng và 387 triệu USD. Đến nay, đưa tổng số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh lên 1.836 dự án (1.414 dự án đầu tư trong nước, 422 dự án đầu tư nước ngoài), tổng vốn đăng ký 1.242 tỷ đồng và 4,3 tỷ USD (tương đương 9,7 tỷ USD). Tổng thu ngân sách 12.840 tỷ đồng, trong đó: Thu nội địa 9.400 tỷ đồng; chi ngân sách 9.623 tỷ đồng, trong đó: Chi đầu tư phát triển 3.121 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 31.547 tỷ đồng. Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường tiếp tục được tăng cường. Hạ tầng giao thông vận tải được đầu tư mạnh, các công trình giao thông trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ thực hiện; tình hình tai nạn giao thông tương đương năm 2017. Công tác giáo dục y tế, văn hóa đạt được nhiều kết quả tích cực: Có thêm 37 trường đạt chuẩn quốc gia, đến nay nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 337 trường, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế 86,5%, tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế 99%, tỷ lệ làng, khu phố văn hóa 88%, tỷ lệ gia đình văn hóa 91%. Công tác an sinh, xã hội được quan tâm thực hiện hiệu quả, thiết thực, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,75%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60%, tạo việc làm mới cho 2,39 vạn lao động. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được tăng cường. Quốc phòng quân sự địa phương được đảm bảo, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
2. Tồn tại, hạn chế
Công tác chỉ đạo, hướng dẫn nông dân sản xuất theo quy trình Vietgap chưa được quan tâm nhiều. Ở nhiệm môi trường do chăn nuôi vẫn diễn biến phức tạp. Chương trình xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức. Tiến độ triển khai một số dự án đầu tư công, dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và cụm công nghiệp còn chậm. Công tác thu ngân sách gặp nhiều khó khăn. Việc triển khai Đề án Ngoại ngữ quốc gia ở giáo dục phổ thông còn khó khăn, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy-học và quản lý giáo dục ở một số đơn vị còn chưa hiệu quả. Kết quả xử lý vi phạm xây dựng công trình, nhà ở trên đất nông nghiệp và hành lang công trình thủy lợi đạt thấp. Công tác giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh và sinh con thứ 3 vẫn ở mức cao. Việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước chưa theo kịp xu thế phát triển chung của xã hội. Tình hình khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương còn diễn biến phức tạp. Hành vi và tính chất của nhiều loại tội phạm ngày càng tái tạo, dã man và phức tạp.