Điều 5. Quy định chính sách tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
1. Doanh nghiệp được thành lập, đăng ký, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và có dự án đầu tư quy định tại khoản 3, 4 và 5 Điều 3 Nghị định số 57/2018/NĐ-CP được ngân sách thành phố hỗ trợ phần lãi suất vay thương mại sau khi dự án hoàn thành như sau:
a) Mức hỗ trợ: Bằng chênh lệch lãi suất vay thương mại so với lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước tính trên số dư nợ thực tế tại thời điểm xem xét hồ sơ hỗ trợ.
b) Mức lãi suất vay thương mại là mức lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại được quy định trong Hợp đồng cho vay giữa ngân hàng thương mại với doanh nghiệp thực hiện dự án.
c) Mức lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước công bố áp dụng cho từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước.
d) Hạn mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất áp dụng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 57/2018/NĐ-CP: Tối đa không quá 70% tổng mức đầu tư của dự án.
2. Thời gian hỗ trợ lãi suất tính từ ngày bắt đầu giải ngân theo hợp đồng tín dụng với ngân hàng thương mại áp dụng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, cụ thể như sau:
a) Tối đa 08 năm đối với dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư; tối đa 06 năm đối với dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư; tối đa 05 năm đối với dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư.
b) Trường hợp dự án của doanh nghiệp nông nghiệp vừa và nhỏ mới thành lập thì thời gian hỗ trợ lãi suất là 08 năm.
c) Dự án mà doanh nghiệp tham gia liên kết chuỗi giá trị thì được áp dụng hỗ trợ lãi suất theo chu kỳ sản xuất của sản phẩm.
3. Phương thức hỗ trợ phần lãi suất vay thương mại thực hiện theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 57/2018/NĐ-CP.