Điều 4. Nguyên tắc hỗ trợ
1. Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch và theo quy định của pháp luật.
2. Bảo đảm chi trả chế độ, chính sách hỗ trợ kịp thời, đầy đủ theo quy định của pháp luật, bảo đảm sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước.
3. Đối với người đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nếu tự nguyện tinh giản biên chế thì được hưởng hỗ trợ theo Nghị quyết này.
4. Việc xác định cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong các Hội quần chúng cấp huyện; cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã dôi dư phải căn cứ vào quyết định của cấp có thẩm quyền về việc giao số lượng và xác định theo từng vị trí việc làm của đơn vị.
Việc xác định người lao động dôi dư: đơn vị sử dụng có trách nhiệm rà soát, xác định trên cơ sở vị trí việc làm, nhu cầu về nguồn nhân lực tại đơn vị và các quy định pháp luật có liên quan.
5. Các đối tượng được hưởng chính sách tại Nghị quyết này nếu được bầu cử, tuyển dụng lại hoặc ký hợp đồng vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong thời gian 05 năm (60 tháng) kể từ ngày nghỉ công tác có trách nhiệm hoàn trả số tiền hỗ trợ đã nhận cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chi trả trợ cấp trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày được bầu cử, tuyển dụng lại hoặc ký hợp đồng. Cơ quan, tổ chức, đơn vị chi trả có trách nhiệm hoàn trả ngân sách tỉnh đối với số kinh phí ngân sách tỉnh cấp hỗ trợ trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kinh phí hoàn trả của đối tượng.