vanban.org

Điều 1. Tán thành Đề án về xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2021 - 2025 (theo Tờ trình số 203/TTr- — Nghị quyết 14/2021/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/08/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/08/2023 Thay thế: 02/2023/NQ-HĐND · 18/07/2023
Hải Phòng Ban hành 10/12/2021 Hiệu lực 21/12/2021 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị quyết · 5 phiên bản · 4 năm
Nghị quyết số 02/2023/NQ-HĐND Về việc xây dựng nông thôn mới thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021-2025 · 02/2023/NQ-HĐND
Nghị quyết số 14/2021/NQ-HĐND về việc xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021 - 2025 · 14/2021/NQ-HĐND
01/08/202302/2023/NQ-HĐNDSửa đổi Đang xem 21/12/2021Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 14/2021/NQ-HĐND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Tán thành Đề án về xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2021 - 2025 (theo Tờ trình số 203/TTr-

UBND và Đề án số 26/ĐA-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2021 của Uỷ ban nhân dân thành phố), với mục tiêu, nguồn lực và giải pháp thực hiện; cụ thể như sau:

1. Mục tiêu

1.1. Mục tiêu chung

- Xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, điều kiện sinh hoạt cho người dân nông thôn; rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị; phát huy tiềm năng, thế mạnh, phù hợp với thực tiễn của địa phương, gắn với thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn. Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đảm bảo đồng bộ và hiện đại, theo hướng đô thị. Bảo đảm môi trường, cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, giàu bản sắc văn hoá truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Tình hình an ninh trật tự nông thôn được giữ vững.

- Đến năm 2025: 100% số xã (137 xã) đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu của thành phố, đồng thời hoàn thành các tiêu chí về nông thôn mới nâng cao theo quy định của Trung ương (Chi tiết tại Phụ lục 01 - kèm theo).

1.2. Chỉ tiêu cụ thể

Một số chỉ tiêu chủ yếu của xã nông thôn mới kiểu mẫu:

- 70% đường trục chính từ đường huyện về trung tâm xã và đường liên xã được trải nhựa mặt rộng tối thiểu 9m, có vỉa hè hoặc lề đường, có rãnh thoát nước, điện chiếu sáng khu dân cư; 70% đường trục chính từ xã về thôn, trục chính liên thôn được trải nhựa mặt rộng tối thiểu 7m có vỉa hè hoặc lề đường, có rãnh thoát nước, điện chiếu sáng khu dân cư; 50% đường trục thôn được trải nhựa hoặc bê tông mặt rộng tối thiểu 5,5m, có rãnh thoát nước, điện chiếu sáng; 50% đường ngõ xóm được trải nhựa hoặc bê tông mặt rộng tối thiểu 3,5m, có rãnh thoát nước, điện chiếu sáng (% tính theo tỷ lệ chiều dài đường).

- 100% trường học các cấp trên địa bàn các xã (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, hoặc trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là trung học cơ sở) đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất mức độ 1 và mỗi xã có ít nhất 01 trường đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất mức độ 2.

- Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt tối thiểu 85 triệu đồng/người/năm. Không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia.

- 100% người dân được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn; 50% số hộ dân thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn; 98% chất thải rắn được thu gom, xử lý; 100% bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn được xử lý, khắc phục ô nhiễm, cải tạo và phục hồi môi trường.

- 90% dân số được quản lý sức khỏe; 95% người dân tham gia bảo hiểm y tế.

- 100% các xã có dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trở lên.

2. Nguồn lực thực hiện

2.1. Ngân sách thành phố: 17.856,6 tỷ đồng

Bao gồm:

a) Vốn đầu tư công: 16.510,6 tỷ đồng

- 8 xã thí điểm (xây dựng từ năm 2020): Năm 2021 đã bố trí đủ cho phần còn thiếu là 385,6 tỷ đồng.

- 129 xã còn lại: 16.125 tỷ đồng. Mức hỗ trợ, trung bình: 125 tỷ đồng/xã; riêng đối với các xã huyện Cát Hải, trung bình: 40 tỷ đồng/xã.

(Chi tiết tại Phụ lục 02 - Gửi kèm)

- Nội dung hỗ trợ:

+ Chi phí xây dựng: đường giao thông, trường học, nhà văn hóa, trạm y tế, công trình môi trường của các xã.

+ Tài sản, vật kiến trúc phải tháo dỡ trong phạm vi xây dựng các công trình; tiền sử dụng đất cho hộ dân không còn đủ điều kiện để ở sau khi tặng cho đất để đầu tư công trình nông thôn mới kiểu mẫu.

b) Vốn sự nghiệp, lồng ghép: 1.346 tỷ đồng

Nội dung hỗ trợ: chi phí chỉ đạo, điều hành, quản lý, tuyên truyền; quản lý, vận hành hệ thống điện chiếu sáng, hệ thống xử lý nước thải; phân loại rác thải đầu nguồn, xử lý rác thải nông thôn; đo đạc, lập mảnh trích đo địa chính để thực hiện chỉnh lý hồ sơ địa chính sau khi nhân dân tặng cho đất để xây dựng công trình nông thôn mới kiểu mẫu; bổ sung trang thiết bị tại điểm bưu chính xã đảm bảo phục vụ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến; lắp đặt hệ thống wifi miễn phí ở các điểm công cộng; hỗ trợ sản xuất (xây dựng mô hình nông nghiệp và ngành nghề nông thôn; ứng dụng công nghệ cao, cơ giới hoá, chuyển đổi số, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phát triển sản phẩm OCOP, hỗ trợ hợp tác xã).

2.2. Ngân sách địa phương huyện, xã: ưu tiên vốn đầu tư công phân cấp hàng năm và các nguồn vốn ngân sách khác của địa phương để thực hiện các nội dung, tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu.

2.3. Huy động hiệu quả các nguồn vốn khác: Huy động các nguồn vốn tín dụng, vốn huy động doanh nghiệp, vốn hợp tác xã, huy động nhân dân tự nguyện đóng góp thông qua các hình thức đóng góp ngày công, cho tặng đất... để thực hiện các tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu.

3. Các nhóm giải pháp chủ yếu:

Thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp chủ yếu, bao gồm: Phát động phong trào Chương trình xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu; huy động cả hệ thống chính trị, mọi người dân chung tay thực hiện Chương trình; tuyên truyền công khai, sâu rộng nội dung Chương trình đến mọi người dân; áp dụng các giải pháp kỹ thuật mới về xây dựng để giảm chi phí, nâng cao chất lượng, độ bền, mỹ quan các công trình xây dựng; phát triển hiệu quả các vùng sản xuất tập trung, các sản phẩm đặc thù, có lợi thế của địa phương; hoàn thiện, nâng cao năng lực bộ máy thực hiện chương trình; ưu tiên nguồn vốn ngân sách, huy động hiệu quả các nguồn lực ngoài ngân sách; tăng cường kiểm tra, giám sát...