Điều 4. Mức trợ cấp và thời gian công tác được tính hưởng trợ cấp
1. Mức trợ cấp thôi việc
a) Người hoạt động không chuyên trách chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định có nguyện vọng thôi việc trước thời hạn cho phép hoàn thiện tiêu chuẩn; người hoạt động không chuyên trách giữ các chức danh theo chế độ bầu cử khi kết thúc nhiệm kỳ không tái cử, không trúng cử thì được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc một lần theo số năm công tác, cứ mỗi năm công tác được hưởng 01 (một) tháng phụ cấp hiện hưởng của tháng gần nhất trước khi thôi việc của chức danh đang đảm nhiệm chính (không tính phụ cấp kiêm nhiệm), bao gồm: mức phụ cấp, phụ cấp tăng thêm, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có).
b) Người hoạt động không chuyên trách có nguyện vọng thôi việc hoặc thôi giữ chức vụ khi chưa kết thúc nhiệm kỳ; thôi việc do không đáp ứng đủ tiêu chuẩn thì được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc một lần theo số năm công tác, cứ mỗi năm công tác được hưởng 0,7 (không phẩy bảy) tháng phụ cấp hiện hưởng của tháng gần nhất trước khi thôi việc của chức danh đang đảm nhiệm chính (không tính phụ cấp kiêm nhiệm), bao gồm: mức phụ cấp, phụ cấp tăng thêm, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có).
2. Thời gian công tác được tính hưởng trợ cấp thôi việc
a) Thời gian công tác được tính hưởng trợ cấp thôi việc là tổng thời gian đảm nhiệm các chức danh không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, buôn, khu phố (nếu có thời gian đứt quãng, gián đoạn thì được cộng dồn) mà chưa nhận trợ cấp thôi việc;
b) Thời gian công tác quy định tại điểm a khoản này, nếu có tháng lẻ thì được tính tròn theo nguyên tắc: dưới 03 (ba) tháng thì không tính; từ đủ 03 (ba) tháng đến đủ 06 (sáu) tháng tính là 1/2 (một phần hai) năm công tác và hưởng trợ cấp bằng mức trợ cấp của 1/2 (một phần hai) năm công tác; từ trên 06 (sáu) tháng đến dưới 12 (mười hai) tháng tính tròn là 01 (một) năm công tác.