Điều 1.
Thông qua Báo cáo số 154/BC-UBND ngày 11 tháng 11 năm 2010 của Ủy ban nhân dân thành phố về tình hình thực hiện Nghị quyết số 10/2009/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2009 của Hội đồng nhân dân thành phố với các nội dung như sau:
- Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2010 có sự chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao (15,03%), cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng theo định hướng, các ngành, các lĩnh vực kinh tế then chốt đều duy trì nhịp độ phát triển, sản xuất công nghiệp có bước khôi phục và phát triển, thương mại - dịch vụ phát triển mạnh, sản xuất lúa có nhiều thuận lợi; thu chi ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản đạt khá; lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tốt; công tác chăm lo chính sách xã hội được thực hiện kịp thời, góp phần đảm bảo an sinh xã hội; công tác giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được cải thiện theo hướng nâng cao chất lượng; công tác cải cách hành chính được đặc biệt quan tâm triển khai thực hiện; quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự xã hội cơ bản ổn định, góp phần cùng cả nước ổn định tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, đạt mục tiêu Nghị quyết số 03/NQ-CP và Nghị quyết số 18/NQ-CP của Chính phủ.
- Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số mặt hạn chế, yếu kém như: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, năng lực cạnh tranh còn yếu, tăng trưởng chủ yếu dựa vào tốc độ phát triển của ngành xây dựng; sản xuất công nghiệp giá trị gia tăng còn thấp, chưa phát triển được ngành công nghiệp phụ trợ; đầu tư của ngân sách cho khu vực nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng. Kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư, nhưng chưa đồng bộ, nhất là giao thông và cơ sở hạ tầng đô thị; tiến độ triển khai một số công trình trọng điểm chậm; công tác bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều vướng mắc; các khu tái định cư triển khai chậm, chưa đáp ứng cho các công trình, dự án của thành phố. Năng lực của một số doanh nghiệp xây dựng của thành phố còn yếu; các doanh nghiệp chủ lực về gạo, thủy sản của thành phố chưa liên kết, hợp tác với nhau để đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp trong vùng và trong cả nước. Giá cả vật tư đầu vào, nguyên nhiên liệu, lãi suất ngân hàng tăng cao làm tăng giá thành, ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh, tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản. Nuôi trồng thủy sản sụt giảm, do giá cả, lợi nhuận không ổn định, không kích thích người nông dân; tình hình tiêu thụ và xuất khẩu gạo vẫn còn khó khăn. Thu hút đầu tư nước ngoài còn thấp, quy mô nhỏ, tiến độ triển khai chậm. Công tác bảo vệ môi trường chưa có biện pháp thực hiện để tạo sự bền vững. An sinh xã hội được đảm bảo nhưng một số mặt vẫn còn hạn chế; hộ nghèo giảm chưa bền vững; trong triển khai chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng nhà đại đoàn kết còn nhiều vướng mắc chậm được giải quyết. Việc xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia chậm, cơ sở vật chất y tế ngày càng quá tải. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đơn thư tồn đọng còn nhiều. Quản lý trật tự đô thị bất cập, vệ sinh môi trường, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông,... có mặt còn yếu kém chưa được khắc phục có hiệu quả. Chính sách đãi ngộ cho cán bộ ở cơ sở xã, phường, thị trấn, ấp, khu vực chưa thỏa đáng, còn bất cập, chưa khuyến khích và thu hút cán bộ ở cơ sở.