vanban.org

Điều 1. Nhất trí thông qua Tờ trình về đặt tên đường huyện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, gồm những nội dung chính như sau: — Nghị quyết 11/2001/NQ-HĐNDT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/12/2013
Sóc Trăng Ban hành 06/07/2001 Hiệu lực 06/07/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 11/2001/NQ-HĐNDT › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Nhất trí thông qua Tờ trình về đặt tên đường huyện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, gồm những nội dung chính như sau:

1. Mục đích, ý nghĩa đặt tên đường:

Hiện nay, 34 tuyến đường huyện (với chiều dài 504,7 km, chỉ có 5 tuyến đã có tên từ lâu theo cách gọi quen thuộc của người dân địa phương như Hương lộ 1, Hương lộ 2 của huyện Kế Sách, Lộ 111, Lộ 113 của huyện Vĩnh Châu và Hương lộ 17 của huyện Thạnh Trị. Các tuyến còn lại chưa có tên gọi, gây khó khăn trong công tác quản lý, đầu tư nâng cấp, sửa chữa thường xuyên, cắm móc chỉ giới hành lang bảo vệ đường bộ và định hướng kế hoạch phát triển mạng lưới giao thông phù hợp với quy hoạch chung trên toàn tỉnh.

2. Nội dung đặt tên đường huyện:

Căn cứ quy định tại mục III, Điều 8, Chương III Nghị định số 167/1999/NĐ-CP, ngày 26/11/1999 của Chính phủ về việc tổ chức quản lý đường bộ, đặt tên chung là đường huyện (kí hiệu là ĐH). Tên cụ thể của từng tuyến được lấy theo thứ tự số học từ 1 đến 32 đi kèm theo sau tên chung (đường huyên) và lấy theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ phía Bắc là huyện Kế Sách đến Long Phú, Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Mỹ Tú. Riêng 5 tuyến đường đã có tên thường gọi thì chỉ sửa theo tên chung là đường huyện và giữ nguyên tên cụ thể, gồm Hương lộ 1 (đặt là Đường huyện 1), Hương lộ 2 (đặt là Đường huyện 2) của huyện Kế Sách, Lộ 111 (đặt là Đường huyện 111), Lộ 113 (đặt là Đường huyện 113) của huyện Vĩnh Châu và Hương lộ 17 ( đặt là Đường huyện 17) của huyện Thạnh Trị.

( Kèm theo bảng chi tiết nội dung đặ tên đường của từng huyện).