Điều 1. Chế độ chi tiêu tiếp khách trong nước
1. Quy định chung về tiếp khách trong nước:
Các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước cấp phải thực hành tiết kiệm trong việc tiếp khách; việc tổ chức tiếp khách phải đơn giản, không phô trương hình thức. Không sử dụng ngân sách để mua quà tặng đối với các đoàn khách đến làm việc. Mọi khoản chi tiêu tiếp khách phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, đối tượng theo quy định; phải công khai, minh bạch và phải được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của cơ quan, đơn vị. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị tổ chức tiếp khách phải trực tiếp chịu trách nhiệm nếu để xảy ra việc chi tiêu sai quy định.
Việc tổ chức chiêu đãi, tiếp khách trong nước của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước do Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức đón tiếp phê duyệt.
2. Mức chi tiếp khách:
a) Chi nước uống: đối với khách đến làm việc tại cơ quan, đơn vị mức chi nước uống tối đa không quá 20.000 đồng/người/ngày.
b) Chi mời cơm: các cơ quan, đơn vị không tổ chức chi chiêu đãi đối với khách trong nước đến làm việc tại cơ quan, đơn vị mình; trường hợp xét thấy cần thiết thì chỉ tổ chức mời cơm khách theo mức chi tiếp khách tối đa không quá 200.000đồng/1 suất.
3. Quy định khác về tiếp khách được mời cơm:
a) Đối tượng khách được mời cơm:
- Đoàn cán bộ lão thành cách mạng; Đoàn Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Đoàn bà con các dân tộc ít người; Đoàn khách già làng trưởng bản, trưởng ấp.
- Đoàn lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ; các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam, Ban, Ngành, Đoàn thể ở Trung ương.
- Các nhà đầu tư đến thăm và làm việc tìm hiểu môi trường đầu tư để mở rộng và thu hút các dự án đầu tư; các nhà tài trợ, viện trợ đến thăm và làm việc với địa phương để triển khai, thực hiện dự án tài trợ, viện trợ.
b) Kế hoạch tiếp khách:
Đối với các khách thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này khi đến thăm và làm việc tại cơ quan cấp tỉnh, huyện, thành phố thì cơ quan tiếp khách phải có đề án hoặc kế hoạch đón tiếp trình cấp có thẩm quyền:
- Đoàn khách là cơ quan Đảng, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể trình Thường trực Tỉnh uỷ đối với cấp tỉnh; trình Thường trực Huyện uỷ, Thành uỷ đối với cấp huyện, thành phố.
- Đoàn khách do Hội đồng nhân dân tỉnh chủ trì tiếp khách trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh; Hội đồng nhân dân huyện, thành phố trình Thường trực Hội đồng nhân dân huyện, thành phố.
- Các đoàn khách còn lại trình Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với cơ quan cấp tỉnh; trình Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố đối với cơ quan cấp huyện, thành phố.
- Kinh phí thực hiện tiếp khách các trường hợp nêu trên được ngân sách cấp bổ sung hoặc từ nguồn kinh phí đặc thù và nguồn thu hợp pháp khác (nếu có).
c) Khách tỉnh bạn, khách trong tỉnh đến thăm và làm việc tại các cơ quan, đơn vị do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định mời cơm theo thẩm quyền, kinh phí tiếp khách được thực hiện từ nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên.
d) Đối với các đoàn khách thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này, khách ngoài tỉnh và khách trong tỉnh khi đến thăm và làm việc tại các xã, phường, thị trấn thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn quyết định mời cơm theo thẩm quyền trong phạm vi nguồn ngân sách xã, phường, thị trấn.
4. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi phí hoạt động, đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, đối tượng khách được mời cơm, mức chi mời cơm do Thủ trưởng đơn vị xem xét, quyết định và phải được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả phù hợp với đặc điểm hoạt động của cơ quan, đơn vị.