Điều 5. Điều khoản thi hành
1. Đối với ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh: Tỷ lệ ngân sách tỉnh hỗ trợ căn cứ vào tình hình thực tế, khả năng cân đối ngân sách của tỉnh bố trí hỗ trợ thực hiện Chương trình theo mục tiêu kế hoạch hằng năm và 5 năm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Đối với ngân sách huyện: Mức hỗ trợ từ ngân sách huyện tại Điều 3 Quy định này là mức hỗ trợ tối thiểu. Tùy vào khả năng cân đối của ngân sách cấp huyện, đặc điểm tình hình, mục tiêu nhiệm vụ và khả năng cân đối vốn của từng công trình, dự án cụ thể, ngân sách cấp huyện có thể xem xét hỗ trợ thêm để giảm bớt tỷ lệ vốn tham gia từ nguồn ngân sách cấp xã và nguồn huy động đóng góp, tỷ lệ ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh không thay đổi khi tăng tỷ lệ ngân sách cấp huyện.
3. Đối với ngân sách xã, huy động các nguồn vốn hợp pháp khác và đóng góp của nhân dân: Bao gồm ngân sách xã, huy động đóng góp của các doanh nghiệp, các nhà tài trợ, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và nhân dân sống trên địa bàn. Đối với đóng góp của nhân dân, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương. UBND xã xây dựng phương án vận động nguồn đóng góp cụ thể cho từng công trình, dự án để nhân dân bàn bạc thống nhất, HĐND xã thông qua. Đóng góp của người dân gồm: hiến quyền sử dụng đất, công lao động, vật tư, tiền, huy động phương tiện thi công, phương tiện vận chuyển và các khoản đóng góp khác.
4. Huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP; xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng dân tộc và miền núi; xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi là các huyện, xã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định.