Điều 1. Tán thành với nội dung Báo cáo số 152/BC-HĐND ngày 16 tháng 7 năm 2020 về kết quả giám sát việc thực hiện một số nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An với các nội dung chủ yếu như sau:
1. Công tác triển khai, tổ chức thực hiện một số nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đạt được những kết quả khá tích cực: Ủy ban nhân dân các cấp đã chỉ đạo tuyên truyền, triển khai các cơ chế, chính sách đến người dân, doanh nghiệp; ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo, phân công nhiệm vụ, hướng dẫn tổ chức thực hiện; quan tâm bố trí kinh phí để thực hiện các nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tập trung hỗ trợ thu hút đầu tư, phát triển nông nghiệp, nông thôn, văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, quốc phòng - an ninh (Tổng kinh phí cấp cho các đơn vị là: 1.471.486 triệu đồng, trong đó: ngân sách Trung ương là: 4.019 triệu đồng, ngân sách tỉnh là: 1.467.467 triệu đồng; Tổng nguồn kinh phí thực hiện là: 1.422.514 triệu đồng, trong đó: ngân sách Trung ương là: 2.388 triệu đồng, ngân sách tỉnh là 1.420.126 triệu đồng); công tác lập, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán, quyết toán kinh phí thực hiện các nghị quyết khá kịp thời; công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện chính sách đảm bảo đúng đối tượng, công khai, minh bạch, chưa phát hiện các sai phạm lớn, chưa có đơn, thư khiếu nại, tố cáo; công tác quản lý tài chính chặt chẽ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Nhìn chung, trong điều kiện của tỉnh còn nhiều khó khăn, các nghị quyết về cơ chế, chính sách được ban hành đã có những tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trên địa bàn tỉnh. Phần lớn các nhóm cơ chế, chính sách về an sinh xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng tổ chức bộ máy mang lại hiệu quả khá rõ nét. Nhóm các cơ chế, chính sách về đầu tư phát triển tuy chưa đạt mục tiêu của các nghị quyết nhưng đã góp phần thu hút đầu tư, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất.
2. Bên cạnh những kết quả đạt được, qua giám sát cho thấy quá trình triển khai, tổ chức thực hiện một số nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, đó là: công tác tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách còn hạn chế, do đó việc tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, người dân còn khó khăn; một số địa phương (huyện, xã) không bao quát được đầy đủ các cơ chế, chính sách được triển khai trên địa bàn; nguồn kinh phí thực hiện một số nghị quyết về cơ chế, chính sách đầu tư phát triển chưa đáp ứng nhu cầu theo mục tiêu nghị quyết đề ra; định mức hỗ trợ một số cơ chế, chính sách quá thấp, trong khi thủ tục thanh, quyết toán rườm rà, do đó chưa thu hút được sự quan tâm của doanh nghiệp, người dân; công tác theo dõi, đôn đốc, rà soát việc thực hiện các nghị quyết chưa kịp thời và thường xuyên, do đó một số cơ chế, chính sách có bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện nhưng không kịp thời tham mưu trình Hội đồng nhân dân tỉnh bãi bỏ hoặc thay thế, sửa đổi, bổ sung (như: Nghị quyết số 225/2009/NQ-HĐND ngày 23/7/2009 về hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện về nhà ở trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Nghị quyết số 278/2009/NQ-HĐND ngày 23/7/2009 về một số cơ chế, chính sách đặc thù trong quản lý, phát triển kinh tế – xã hội đối với thành phố Vinh - đô thị loại I trực thuộc tỉnh; Nghị quyết số 307/2010/NQ-HĐND ngày 10/7/2010 về một số cơ chế, chính sách hỗ trợ huyện Nam Đàn phát triển kinh tế - xã hội đến 2020; Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 20/12/2017 về một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An...); việc phân cấp thực hiện một số cơ chế, chính sách ban hành theo các nghị quyết chưa đồng bộ, chưa phù hợp với mục tiêu hướng đến đối tượng được thụ hưởng chính sách; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát còn hạn chế; việc sơ kết, tổng kết, đánh giá hiệu quả thực hiện các cơ chế, chính sách chưa được quan tâm đúng mức.
3. Những hạn chế, tồn tại nêu trên do một số nguyên nhân chủ yếu sau: điều kiện của tỉnh còn nhiều khó khăn; nguồn ngân sách cho đầu tư phát triển còn hạn hẹp; một số nghị quyết về cơ chế, chính sách ban hành trong thời kỳ ổn định ngân sách dẫn đến khó khăn trong bố trí nguồn lực đảm bảo thực hiện nghị quyết; trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người dân còn hạn chế; công tác chỉ đạo của UBND tỉnh trong rà soát, thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện cơ chế, chính sách chưa kịp thời; năng lực, trách nhiệm của một số Sở, ban, ngành trong tham mưu công tác xây dựng và thực hiện chính sách còn hạn chế, chưa toàn diện; giám sát của Thường trực, các Ban, Tổ đại biểu và đại biểu HĐND tỉnh về việc thực hiện các nghị quyết của HĐND tỉnh chưa thường xuyên.