Điều 10. Xử lý một số vấn đề chuyển tiếp
1. Xử lý các hợp đồng giao, nhận khoán đất trước đây:
a) Trách nhiệm thực hiện việc thanh lý hợp đồng giao, nhận khoán do bên giao khoán đất thực hiện. Ở những nơi bên giao khoán đất đã giải thể thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất thực hiện;
b) Đối với các hợp đồng giao, nhận khoán đất trồng rừng bằng ngân sách nhà nước mà không thành rừng, việc thanh lý hợp đồng giao, nhận khoán và thanh lý rừng trồng được áp dụng theo quy định tại Thông tư số 18/2013/TT-BTC ngày 20 tháng 02 năm 2013 của Bộ Tài chính. Sau khi thanh lý hợp đồng giao khoán thì các chủ sử dụng đất được giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định này;
c) Đối với các hợp đồng giao, nhận khoán đất mà trên đất còn rừng tự nhiên, rừng trồng, thì không thanh lý hợp đồng giao nhận khoán, bên nhận khoán phải tiếp tục chăm sóc bảo vệ rừng tự nhiên, rừng trồng theo hợp đồng giao, nhận khoán đến khi đủ tuổi khai thác, thanh lý theo quy định.
2. Trường hợp người sử dụng đất thông qua hợp đồng giao, nhận khoán đất đã thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng giao, nhận khoán với bên giao khoán được xử lý như sau:
a) Trường hợp người sử dụng đất thông qua hợp đồng giao, nhận khoán đã đóng góp sản phẩm bằng tỉ lệ phần trăm (%) diện tích trên tổng diện tích nhận khoán hoặc giao nộp sản phẩm theo hợp đồng nhận khoán cho bên giao khoán, nếu thuộc đối tượng thuê đất theo Quy định này thì được xem xét khấu trừ sản phẩm đã nộp vào tiền thuê đất phải nộp;
b) Trường hợp người sử dụng đất thông qua hợp đồng giao, nhận khoán đã tự bỏ chi phí để bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân khác trên đất nhận khoán theo phương án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, nếu thuộc đối tượng thuê đất theo Quy định này thì được xem xét khấu trừ chi phí đã bỏ ra vào tiền thuê đất phải nộp;
c) Trường hợp người sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này, nếu thuộc đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất theo Quy định này thì không được hoàn trả sản phẩm đã nộp, chi phí đã bỏ ra.
Miễn thu các khoản nợ nghĩa vụ của các hộ nhận khoán đã được xác lập trong hợp đồng giao khoán đất và các trường hợp mượn đất theo Quyết định số 184/HĐ-BT ngày 06 tháng 11 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng. Đối với các trường hợp đã nộp các khoản nghĩa vụ theo hợp đồng khoán trước đây thì không được hoàn trả các khoản đã nộp
3. Xử lý đối với các trường hợp đã được giao đất, cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 52/2009/QĐ-UBND ngày 4 tháng 11 năm 2009 và Quyết định số 21/2013/QĐ-UBND ngày 6 tháng 5 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Trường hợp người sử dụng đất đã được giao đất, cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay phù hợp với Quy định này thì không phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Trường hợp người sử dụng đất đã được cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay thuộc đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất theo Quy định này thì thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hình thức thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất. Kể cả các trường hợp đã nhận chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất thuê trả tiền hằng năm nay thuộc đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất
4. Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao theo quy định tại khoản 1, Điều 4 của Quy định này mà không đủ diện tích tối thiểu để tách thành thửa đất mới theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh thì không thực hiện việc tách thửa để chuyển sang hình thức thuê đất, mà được xem xét giao đất không thu tiền sử dụng đất chung với thửa đất nông nghiệp trong hạn mức.
5. Xử lý các trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước khi có quy hoạch đất lâm nghiệp: Người sử dụng đất phải có nghĩa vụ chứng minh thời điểm sử dụng đất và các loại giấy tờ liên quan đến nguồn gốc đất trước quy hoạch lâm nghiệp sẽ được công nhận đất ở (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo quy định của Luật Đất đai.
6. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp chồng trên đất lâm nghiệp nay diện tích này đã tách ra khỏi lâm phần thì được xem xét giao, cho thuê đất theo Quy định này.
7. Đối với các hồ sơ giao đất, cho thuê đất đã cấp theo Nghị quyết số 09/2016/NQ-HĐND ngày 17 tháng 10 năm 2016 chưa phù hợp với Quy định này, nếu có nhu cầu thì được xem xét giao đất, cho thuê đất theo quy định này.