vanban.org

Điều 1. Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành, thông qua Nghị quyết về phát triển Kinh tế - Xã hội các huyện đặc biệt khó khăn: Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, đến năm 2015, với các nội dung sau: — Nghị quyết 09/2009/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 07/01/2016
Đắk Lắk Ban hành 10/07/2009 Hiệu lực 20/07/2009 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 09/2009/NQ-HĐND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành, thông qua Nghị quyết về phát triển Kinh tế - Xã hội các huyện đặc biệt khó khăn: Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, đến năm 2015, với các nội dung sau:

1. Chỉ tiêu chủ yếu:

- Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt từ 15 - 16 %, trong đó: Nông, lâm, ngư nghiệp tăng khoảng 9,5 - 10%, Công nghiệp, Xây dựng 20 - 21%; Thương mại - Dịch vụ 18 - 19%.

- Cơ cấu kinh tế Nông, lâm nghiệp chiếm 50 - 51%; Công nghiệp, xây dựng chiếm 25 - 26%; Thương mại - Dịch vụ chiếm 23 - 24%.

- Thu nhập bình quân đầu người từ 12 - 15 triệu đồng/năm.

- Thu ngân sách năm sau tăng so với năm trước từ 15 - 20%.

- Thuỷ lợi đảm bảo tưới chủ động cho 80% diện tích có nhu cầu tưới

- Giao thông nhựa hoá toàn bộ các tuyến tỉnh lộ, đường đến trung tâm xã; 60% đường huyện, 35% đường xã, liên xã và 10 - 15% đường thôn, buôn.

- 100% thôn, buôn có điện lưới quốc gia, có 90 - 95% số hộ dùng điện.

- Tỷ lệ dân số được dùng nước hợp vệ sinh đạt 95%.

- 100% số xã nối được mạng thông tin viễn thông, có 8 - 12 máy điện thoại/100 người dân.

- Chuẩn hoá 100% đội ngũ giáo viên; 85 - 90% thôn, buôn có phân hiệu trường hoặc lớp mẫu giáo; 25 - 30% đạt trường chuẩn Quốc gia.

- 90% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em < 20%.

- 95% số xã trở lên được phủ sóng truyền hình.

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo bằng mức bình quân chung của tỉnh.

2. Nội dung chính sách hỗ trợ.

- Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng: Ngân sách tỉnh đầu tư 100% kinh phí để thực hiện dự án (kể cả chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng) trên địa bàn các huyện: Lăk, Krông Bông và M’Drắk.

- Hộ gia đình nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên là rừng sản xuất có trữ lượng giàu, trung bình nhưng đóng cửa rừng) được hưởng tiền khoán chăm sóc, bảo vệ rừng với mức cao nhất theo qui định của Chính phủ là 200.000 đồng/ha/năm.

- Ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại Ngân hàng thương mại nhà nước để trồng rừng sản xuất và cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản đầu tư trên địa bàn các huyện nghèo.