Điều 4. Chế độ quản lý, sử dụng phí đấu giá
1. Phí đấu giá là khoản thu nhằm bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá và thu phí gồm các khoản sau:
+ Chi phí niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá;
+ Chi phí tổ chức đăng ký mua tài sản bán đấu giá;
+ Chi phí hồ sơ tham gia đấu giá;
+ Chi phí bảo quản, trưng bày, cho xem tài sản;
+ Chi phí tổ chức phiên đấu giá gồm:
. Chi tiền nước uống;
. Chi bồi dưỡng cho mỗi thành viên tham gia Hội đồng bán đấu giá tối đa là 50.000 đồng cho một buổi đấu giá.
Trường hợp đặc biệt phải tổ chức bán vào ngày thứ bảy và ngày chủ nhật thì mức chi bồi dưỡng cho mỗi thành viên được tính tối đa là 100.000 đồng cho một buổi đấu giá.
+ Chi phí bàn giao tài sản; …
2. Việc quản lý, sử dụng tiền thu từ phí đấu giá được thực hiện như sau:
a) Đối với đơn vị thu phí là đơn vị sự nghiệp có chức năng bán đấu giá tài sản hoặc Hội đồng bán đấu giá tài sản: phí đấu giá thu được là khoản thu thuộc ngân sách Nhà nước, được quản lý và sử dụng như sau:
- Trường hợp đơn vị thu phí đã được ngân sách Nhà nước đảm bảo kinh phí cho việc tổ chức bán đấu giá thì đơn vị thu phí phải nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào ngân sách Nhà nước theo chương, loại, khoản, mục, tiểu mục tương ứng của Mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành.
- Trường hợp đơn vị thu phí chưa được ngân sách Nhà nước bảo đảm kinh phí cho việc tổ chức bán đấu giá thì đơn vị thu phí được sử dụng toàn bộ (100%) tiền phí thu được để trang trải chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá và thu phí theo chế độ quy định.
b) Đối với đơn vị thu phí là doanh nghiệp bán đấu giá tài sản: phí đấu giá thu được là khoản thu không thuộc ngân sách Nhà nước. Tiền phí thu được là doanh thu của đơn vị thu phí. Đơn vị thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đối với số phí thu được và có quyền quản lý, sử dụng số tiền thu phí sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hàng năm, đơn vị thu phí phải thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.
c) Đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất theo quy định tại Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg mà tiền thu từ phí đấu giá của người tham gia đấu giá không bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá thì ngân sách Nhà nước hỗ trợ phần kinh phí còn thiếu đối với việc tổ chức bán đấu giá đó, theo nguyên tắc sau:
- Giá trị quyền sử dụng đất đấu giá là khoản thu thuộc ngân sách cấp nào (không phân biệt đấu giá thành hay không thành) thì ngân sách cấp đó có trách nhiệm đảm bảo kinh phí hỗ trợ;
- Số tiền hỗ trợ là khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán đấu giá (có hoá đơn, chứng từ hợp pháp) trừ đi số phí đấu giá thu được từ người tham gia đấu giá, nhưng không vượt quá số phí đấu giá tính theo mức thu tại điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị quyết này.