Điều 5. Cân đối các nguồn lực
Cân đối các nguồn ngân sách thực hiện như sau:
a. Ngân sách tỉnh hỗ trợ theo chính sách này là 30% giá trị xây lắp, kinh phí cần hỗ trợ 30 tỷ đồng/năm;
b. Lồng ghép để xây dựng kiên cố hóa kênh mương từ các nguồn hỗ trợ bổ sung từ chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới và hỗ trợ từ các Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững;
c. Kinh phí huyện, thị xã, thành phố, kinh phí xã, phường, thị trấn hỗ trợ;
d. Cấp bù thủy lợi phí: Phần kinh phí cấp bù thủy lợi phí theo Nghị định 67/2012/NĐ-CP khoảng 65 tỷ đồng/năm; theo quy định của UBND tỉnh tại Quyết định số 2676/QĐ-CTUBND ngày 25/11/2011 về việc quy định sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí, theo đó các địa phương phải sử dụng tối thiểu 70% kinh phí được cấp bù cho việc duy tu, sửa chữa các công trình thủy lợi và kiên cố hóa kênh mương. Đề nghị các đơn vị hưởng cấp bù thủy lợi phí bố trí khoảng 30% kinh phí duy tu sửa chữa công trình thủy lợi để đầu tư cho kiên cố hóa kênh mương; giá trị tạm tính là 65 x 70% x 30% ≈ 15 tỷ đồng/năm (bình quân 1 xã là 110 - 150 triệu đồng/năm).
Đối với các địa phương không còn nguồn cấp bù thủy lợi phí để thực hiện kiên cố hóa kênh mương ( như các Hợp tác xã Nông nghiệp sử dụng nhiều trạm bơm điện, bơm dầu…) thì các huyện, thị xã, thành phố tăng mức hỗ trợ cho các địa phương này từ nguồn vay tín dụng ưu đãi (vay từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam).
đ. Các nguồn kinh phí hỗ trợ hợp pháp khác.