Điều 2. Thẩm quyền quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ có giá trị mua sắm từ 500 triệu đồng trở lên/gói thầu, nội dung mua sắm thuộc nguồn kinh phí quản lý theo phân cấp hiện hành.
2. Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp tỉnh quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ có giá trị mua sắm dưới 500 triệu đồng/gói thầu, nội dung mua sắm.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ có giá trị mua sắm từ 200 triệu đồng trở lên/gói thầu, nội dung mua sắm thuộc nguồn kinh phí quản lý theo phân cấp hiện hành.
4. Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp huyện; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ có giá trị mua sắm dưới 200 triệu đồng/gói thầu, nội dung mua sắm.
5. Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ trong phạm vi nguồn tài chính hợp pháp của đơn vị.
6. Trường hợp việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ sử dụng hỗn hợp từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn tài chính hợp pháp của đơn vị, thực hiện theo quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 Điều này.
7. Đối với việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc phần kinh phí được giao khoán của nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước; việc mua sắm không sử dụng vốn ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của cá nhân, tổ chức tham gia nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà không phải là cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp thông qua mua trực tiếp hộ gia đình, cá nhân thì việc mua sắm thực hiện theo quy định tại Khoản 3, 4, 5 Điều 134 Nghị định số 24/2024/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.