Điều 3. Chính sách hỗ trợ đất ở, đất nông nghiệp, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp để đảm bảo ổn định cuộc sống
1. Đối tượng cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền được hưởng chính sách hỗ trợ đất đai lần đầu về giao đất ở, đất nông nghiệp, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở, cho thuê đất phi nông nghiệp không phải là đất ở để sản xuất kinh doanh, như sau:
a) Giao đất ở trong hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố và được miễn tiền sử dụng đất;
b) Giao đất nông nghiệp trong hạn mức theo quy định tại Điều 176 Luật Đất đai và không thu tiền sử dụng đất;
c) Cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở trong hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố và được miễn tiền sử dụng đất;
d) Cho thuê đất phi nông nghiệp không phải là đất ở để sản xuất, kinh doanh theo chương trình, đề án, dự án, phương án hỗ trợ đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt để sản xuất, kinh doanh và được miễn tiền thuê đất.
2. Trong quá trình lập phương án hỗ trợ đất đai Ủy ban nhân dân cấp xã phải sắp xếp thứ tự ưu tiên hỗ trợ đất đai cho các cá nhân thuộc diện hộ nghèo không có đất ở, đất sản xuất trước đến các cá nhân hộ cận nghèo không có đất ở, đất sản xuất.