vanban.org

Điều 5. Cách xác định tiền lương và thời gian để tính chính sách hưởng hỗ trợ — Nghị quyết 04/2024/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/10/2025
Thái Bình Ban hành 15/05/2024 Hiệu lực 27/05/2024 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 04/2024/NQ-HĐND › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Cách xác định tiền lương và thời gian để tính chính sách hưởng hỗ trợ

1. Tiền lương hiện hưởng quy định tại Điều 3 Nghị quyết này là tiền lương tháng liền kề trước khi nghỉ công tác. Tiền lương tháng được tính bao gồm: mức lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh nghề nghiệp hoặc mức lương theo thỏa thuận của hợp đồng; các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, tiền lương và mức chênh lệch bảo lưu (nếu có) theo quy định của pháp luật về tiền lương.

2. Tiền lương bình quân để tính hưởng chính sách quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 3 Nghị quyết này là tiền lương tháng bình quân của 05 năm cuối (60 tháng) trước khi nghỉ công tác. Trường hợp chưa đủ 05 năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội, thì tiền lương tháng bình quân của toàn bộ thời gian công tác.

3. Phụ cấp hiện hưởng quy định tại Điều 4 Nghị quyết này là phụ cấp tháng liền kề trước khi nghỉ công tác (không bao gồm phụ cấp kiêm nhiệm).

4. Thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để tính hưởng chính sách quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết này là tổng thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (nếu đứt quãng thi được cộng dồn) nhưng chưa hưởng chế độ trợ cấp thôi việc hoặc chưa hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần hoặc chưa hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ. Nếu tổng thời gian tính hỗ trợ có tháng lẻ thì được tính tròn theo nguyên tắc: từ 01 tháng đến đủ 06 tháng tính là ½ năm và được hưởng hỗ trợ bằng mức hỗ trợ của ½ năm; từ trên 06 tháng đến dưới 12 tháng thì tính tròn là 01 năm,

5. Thời gian nghỉ trước so với thời điểm kết thúc nhiệm kỳ đại hội của tổ chức để tính hưởng chính sách quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết này là tổng thời gian công tác nghỉ trước so với thời điểm kết thúc nhiệm kỳ đại hội của tổ chức. Nếu tổng thời gian tính hỗ trợ có tháng lẻ thì được tính tròn theo nguyên tắc: từ 01 tháng đến đủ 06 tháng tính là ½ năm và được hưởng hỗ trợ bằng mức hỗ trợ của ½ năm; từ trên 06 tháng đến dưới 12 tháng thì tính tròn là 01 năm.