vanban.org

Điều 2. Chính sách hỗ trợ thu nhập hàng tháng — Nghị quyết 04/2022/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/05/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/05/2026 Thay thế: 04/2026/NQ-HĐND · 20/04/2026 Sửa đổi, bổ sung: 22/2024/NQ-HĐND · 06/12/2024
Hải Phòng Ban hành 20/07/2022 Hiệu lực 01/08/2022 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị quyết · 3 phiên bản · 4 năm
Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐND Quy định chính sách hỗ trợ một số thành viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030 · 04/2026/NQ-HĐND
Nghị quyết số 04/2022/NQ-HĐND Quy định một số chính sách đặc thù hỗ trợ người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo giai đoạn 2022 - 2025 trên địa bàn thành phố Hải Phòng · 04/2022/NQ-HĐND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 04/2022/NQ-HĐND › Điều 2
Đọc toàn văn

Điều 2. Chính sách hỗ trợ thu nhập hàng tháng

1. Hỗ trợ thêm hàng tháng cho các đối tượng tại điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị quyết này (ngoài mức trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định hiện hành) để bảo đảm tổng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước bằng với mức thu nhập chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 do Chính phủ quy định. Cụ thể là:

a) 1.500.000 đồng/người/tháng đối với người sống tại khu vực nông thôn

b) 2.000.000 đồng/người/tháng đối với người sống tại khu vực thành thị.

2. Hỗ trợ hàng tháng cho đối tượng tại điểm b khoản 2 Điều 1 Nghị quyết này bằng với mức thu nhập chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 do Chính phủ quy định, cụ thể là:

a) 1.500.000 đồng/người/tháng đối với người sống tại khu vực nông thôn;

b) 2.000.000 đồng/người/tháng đối với người sống tại khu vực thành thị.

3. Hỗ trợ hàng tháng cho đối tượng tại điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết này, với mức 1.000.000 đồng/người/tháng.

4. Điều kiện hỗ trợ: Các đối tượng tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 1 tại thời điểm xét hưởng chính sách là thành viên thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo mà trong hộ không có người trong độ tuổi lao động, hoặc có người trong độ tuổi lao động nhưng đang hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng, hoặc trong độ tuổi lao động nhưng dưới 18 tuổi và đang học văn hóa, học nghề (kể cả học sinh đang học tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên), hoặc trong độ tuổi lao động nhưng bị bệnh/chấn thương nặng đang chữa bệnh chưa có khả năng làm việc tạo ra thu nhập.

5. Thời gian hỗ trợ: Từ khi Nghị quyết có hiệu lực đến hết năm 2025