vanban.org

Điều 14. Giao nhận chứng cứ trong giai đoạn xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm — Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2013 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Hội đồng thẩm phán TAND tối cao Ban hành 03/12/2012 Hiệu lực 01/07/2013 Còn hiệu lực 28 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị quyết · 2 phiên bản · 21 năm
Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định “Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự · 04/2012/NQ-HĐTP
01/07/2013Bản gốcThay thế Hiện hành
Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về "Chứng minh và chứng cứ" · 04/2005/NQ-HĐTP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Giao nhận chứng cứ trong giai đoạn xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

1. Sau khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nếu đương sự yêu cầu người có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và nộp chứng cứ bổ sung thì việc giao nhận chứng cứ được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thuộc thẩm quyền kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, thì Thẩm tra viên Phòng giám đốc kiểm tra Toà án nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện việc giao nhận chứng cứ.

Thẩm tra viên lập biên bản giao nhận chứng cứ và Trưởng phòng giám đốc kiểm tra xác nhận, ký tên, đóng dấu Toà án.

b) Trường hợp thuộc thẩm quyền kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, nếu đương sự nộp chứng cứ bổ sung tại Phòng tiếp dân Toà án nhân dân tối cao, thì cán bộ Phòng tiếp dân lập biên bản giao nhận chứng cứ và Trưởng phòng tiếp dân xác nhận, ký tên, đóng dấu Toà án; nếu đương sự nộp chứng cứ bổ sung cho Thẩm tra viên Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động được phân công tiếp đương sự, thì Thẩm tra viên lập biên bản giao nhận chứng cứ và Chánh toà hoặc Phó Chánh toà Toà chuyên trách tương ứng được Chánh toà uỷ quyền xác nhận, ký tên, đóng dấu Toà án.

2. Sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc giao nộp chứng cứ tại Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện theo quy định chung của pháp luật tố tụng và hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nhưng phải được đóng dấu Viện kiểm sát.