vanban.org

Điều 1. Hội đồng nhân dân tỉnh Hậu Giang thống nhất đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019, với những nội dung chủ yếu sau: — Nghị quyết 03/2019/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ
Hậu Giang Ban hành 11/07/2019 Hiệu lực 21/07/2019 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 03/2019/NQ-HĐND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Hội đồng nhân dân tỉnh Hậu Giang thống nhất đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019, với những nội dung chủ yếu sau:

Trong 6 tháng đầu năm, được sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của UBND tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và Nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có chuyển biến và đạt được những kết quả quan trọng là:

(1) Tái cơ cấu kinh tế đã có chuyển biến tích cực và hướng đi rõ nét; đời sống Nhân dân tiếp tục được cải thiện, GRDP bình quân đầu người đạt 42,06 triệu đồng, tăng hơn 8% so với cùng kỳ; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đã tăng đáng kể nhờ nỗ lực tái cơ cấu về tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với thị trường.

(2) Mặc dù phải đối mặt với những khó khăn, thách thức từ dịch tả heo Châu Phi, cúm gia cầm và diễn biến phức tạp, khó khăn về thị trường tiêu thụ nhất là đối với cây lúa, cây mía, chăn nuôi heo, nhưng nhìn chung nhiều lĩnh vực sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn đạt kết quả cao hơn so với cùng kỳ năm 2018, tỷ lệ sử dụng giống chất lượng cao chiếm trên 72%. Công tác thanh tra, kiểm tra vật tư nông nghiệp, chất lượng nông sản và vệ sinh an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản được thực hiện thường xuyên, liên tục. Từ đó, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Việc thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị được triển khai khá tích cực, từ đó sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, thủy sản và cây ăn trái đã có chuyển biến tốt. Các địa phương nỗ lực quyết tâm cao trong xây dựng nông thôn mới, số xã nông thôn mới chiếm tỷ lệ 54,7% tổng số xã. Công nhận 01 xã nông thôn mới nâng cao, các xã còn lại bình quân đạt 11 tiêu chí, số tiêu chí bình quân toàn tỉnh là 15,5 tiêu chí/xã đạt 100% kế hoạch cả năm và vượt chỉ tiêu kế hoạch 5 năm.

(3) Lĩnh vực công nghiệp tăng trưởng ổn định; số lượng dự án thu hút đầu tư trong nước tăng; phát triển doanh nghiệp chuyển biến khá, quy mô nguồn vốn của doanh nghiệp tăng dần, cho thấy môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện; thu ngân sách đạt khá; đầu tư công tiếp tục được tái cơ cấu, nợ đọng xây dựng cơ bản được kéo giảm theo đúng lộ trình.

(4) Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, y tế, văn hóa, giáo dục, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu được đặc biệt quan tâm và đạt những kết quả tốt. Hoạt động du lịch có dấu hiệu khởi sắc.

(5) An ninh chính trị và trật tự xã hội được bảo đảm, số vụ tội phạm giảm so với cùng kỳ; công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền và đấu tranh phòng, chống tham nhũng được chú trọng.

Bên cạnh những mặt đạt được, tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn một số vấn đề tồn tại và khó khăn chủ yếu là:

(1) Tăng trưởng kinh tế còn thấp so với kế hoạch. Sản xuất nông nghiệp còn phân tán theo sản xuất truyền thống, kinh tế hộ nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ trọng cao, sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn vẫn còn rất hạn chế, quy mô vùng nguyên liệu nhỏ, nên tổ chức liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị gặp nhiều khó khăn. Tình hình thời tiết diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, đã làm xảy ra các dịch bệnh nguy hiểm như lở mồm long móng, tai xanh trên heo, cúm gia cầm và dịch tả heo Châu Phi... gây ảnh hưởng đến sản xuất và thu nhập của nông dân. Giá cả các nông sản thấp và tính cạnh tranh chưa cao; việc triển khai thực hiện các dự án thuộc đề án giống cây trồng, vật nuôi còn chậm. Xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu nguồn lực.

(2) Việc thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp ngoài tỉnh, các doanh nghiệp nước ngoài còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực yếu, chưa đáp ứng được theo nhu cầu của doanh nghiệp, việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng kết quả vẫn còn hạn chế, không có quỹ đất sạch, cơ sở hạ tầng các khu, cụm công nghiệp chưa đồng bộ, làm ảnh hưởng việc triển khai dự án của nhà đầu tư. Hạ tầng Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn yếu kém, nên khó kêu gọi đầu tư.

(3) Chất lượng dịch vụ chưa được cải thiện nhiều, nhất là dịch vụ lưu trú ăn uống, vận tải, logistics và cơ sở hạ tầng thông tin; mức tiêu dùng trong Nhân dân còn thấp; tình trạng buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng còn phức tạp; chất lượng môi trường, nhất là môi trường nước đang có xu hướng bị ô nhiễm.

(4) Công tác giải phóng mặt bằng từng lúc, từng nơi còn chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án đầu tư. Việc công khai minh bạch thông tin về quy hoạch chưa đầy đủ và kịp thời.

(5) Tội phạm và tai nạn giao thông từng lúc từng nơi còn diễn biến phức tạp. Số lượt người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và số đơn thư khiếu nại tăng so cùng kỳ.