vanban.org

Điều 11. Việc dẫn giải người làm chứng, nghĩa vụ cam đoan của người làm chứng, việc từ chối khai báo của người làm chứng quy định tại Điều 56 của Luật TTHC — Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 12/09/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/03/2015 Sửa đổi, bổ sung: 01/2015/NQ-HĐTP · 15/01/2015
Hội đồng thẩm phán TAND tối cao Ban hành 29/07/2011 Hiệu lực 12/09/2011 Còn hiệu lực 174 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời nghị quyết · 5 phiên bản · 23 năm
Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính · 02/2011/NQ-HĐTP
01/03/201501/2015/NQ-HĐTPSửa đổi Hiện hành 12/09/2011Bản gốcThay thế
Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung theo các Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 25 tháng 12 năm 1998 và ngày 04 tháng 5 năm 2006 · 04/2006/NQ-HĐTP
Nghị quyết số 03/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính · 03/2003/NQ-HĐTP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP › Chương I › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Việc dẫn giải người làm chứng, nghĩa vụ cam đoan của người làm chứng, việc từ chối khai báo của người làm chứng quy định tại Điều 56 của Luật TTHC

1. Hội đồng xét xử có thể ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên toà khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến phiên toà mà không có lý do chính đáng;

b) Việc vắng mặt của người làm chứng tại phiên toà gây trở ngại cho việc xét xử vụ án;

c) Việc dẫn giải người làm chứng đến phiên toà có thể thực hiện được trước khi tranh luận.

Quyết định dẫn giải người làm chứng phải được giao ngay cho lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền để thực hiện theo quy định tại Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19) ngày 10-9-2003 của Bộ Công an “hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân”.

2. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà, Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử yêu cầu người làm chứng phải cam đoan trước Toà án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên. Cam đoan của người làm chứng có các nội dung sau đây:

a) Cam đoan đã được Toà án giải thích rõ về quyền, nghĩa vụ của người làm chứng;

b) Cam đoan khai báo trung thực trước Toà án;

c) Cam đoan xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, cam đoan của người làm chứng được ghi vào biên bản lấy lời khai của người làm chứng; tại phiên toà, cam đoan của người làm chứng được ghi vào biên bản phiên toà.

3. Người làm chứng được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan hệ thân thích với mình. Trong trường hợp này, Thẩm phán phải giải thích cho họ biết nếu việc từ chối khai báo không có căn cứ thì họ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

a) Liên quan đến bí mật nhà nước là liên quan đến những vấn đề (thông tin, tin tức, nội dung…) trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được pháp luật quy định là có các mức độ: “Tuyệt mật”, “Tối mật” hoặc “Mật”;

b) Liên quan đến bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân là liên quan đến bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân được pháp luật bảo vệ của chính người làm chứng;

c) Có ảnh hưởng xấu cho đương sự trong vụ án là người có quan hệ thân thích với mình là trường hợp nếu người làm chứng khai ra những điều mình biết thì ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc ảnh hưởng xấu khác trong cuộc sống, công tác, sản xuất, kinh doanh của đương sự là người có quan hệ thân thích với người làm chứng.

Việc xác định người thân thích của người làm chứng được thực hiện tương tự như hướng dẫn tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết này.