vanban.org

Điều 13. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổ chức, cá nhân — Nghị định 95/2014/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 14/10/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 14/10/2025 Thay thế: 13/2019/NĐ-CP · 01/02/2019
Chính phủ Ban hành 17/10/2014 Hiệu lực 01/12/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 11 năm
Nghị định số 95/2014/NĐ-CP Quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ · 95/2014/NĐ-CP
14/10/2025265/2025/NĐ-CPBãi bỏ Đang xem 20/03/201913/2019/NĐ-CPSửa đổi 01/12/2014Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 95/2014/NĐ-CP › Chương II › Mục 3 › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổ chức, cá nhân

1. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ do tổ chức, cá nhân thành lập là tổ chức hoạt động không vì mục đích lợi nhuận để tài trợ không hoàn lại, cho vay với lãi suất thấp hoặc không lấy lãi, bảo lãnh vốn vay, phục vụ nhu cầu phát triển khoa học và công nghệ. Thủ tục thành lập và hoạt động cho vay, bảo lãnh vốn vay của các quỹ này phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

2. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các tổ chức, cá nhân được hình thành từ vốn đóng góp của các tổ chức, cá nhân sáng lập không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn góp tự nguyện, hiến, tặng; các nguồn hợp pháp khác.

3. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổ chức, cá nhân phải đăng ký hoạt động tại Sở Tài chính nơi đặt trụ sở chính của quỹ đồng thời thông báo việc thành lập quỹ cho Sở Khoa học và Công nghệ cùng cấp.

4. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ do tổ chức, cá nhân thành lập được ưu tiên trong việc thuê đất xây dựng trụ sở chính và các chi nhánh của quỹ.