vanban.org

Điều 6. Thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng thu nhập của từng cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định này, tính bình quân tháng trong năm, cụ thể là: — Nghị định 78/2001/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 16/08/2004 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 16/08/2004 Thay thế: 147/2004/NĐ-CP · 23/07/2004
Chính phủ Ban hành 23/10/2001 Hiệu lực 01/07/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời nghị định · 5 phiên bản · 26 năm
Nghị định số 147/2004/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao · 147/2004/NĐ-CP
Nghị định số 78/2001/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao · 78/2001/NĐ-CP
16/08/2004147/2004/NĐ-CPThay thế Đang xem 01/07/2001Bản gốcThay thế
Nghị định số 170/1999/NĐ-CP Sửa đổi một số điều của Nghị định số 05/CP ngày 20 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. · 170/1999/NĐ-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 78/2001/NĐ-CP › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng thu nhập của từng cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định này, tính bình quân tháng trong năm, cụ thể là:

1. Đối với công dân Việt Nam làm việc ở trong nước hoặc công tác, lao động ở nước ngoài và cá nhân khác định cư tại Việt Nam lấy tổng thu nhập phát sinh trong năm chia cho 12 tháng (theo năm dương lịch). Trường hợp công dân Việt Nam có thời gian làm việc ở trong nước và ở nước ngoài thì thu nhập chịu thuế là tổng thu nhập phát sinh ở trong nước và ở nước ngoài.

2. Đối với người nước ngoài:

a) Nếu cư trú tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên lấy tổng số thu nhập phát sinh tại Việt Nam và thu nhập phát sinh ngoài Việt Nam chia cho 12 tháng. Trường hợp kê khai thu nhập bình quân tháng ở nước ngoài thấp hơn ở Việt Nam mà không chứng minh được, thì căn cứ vào thu nhập bình quân tháng ở Việt Nam để tính cho thời gian ở nước ngoài. Tháng tính thuế quy ước là 30 ngày;

b) Nếu ở Việt Nam từ 30 ngày đến 182 ngày thì thu nhập chịu thuế là tổng số thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi nhận thu nhập;

c) Thời gian cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam được tính 12 tháng liên tục cho năm tính thuế đầu tiên, những năm sau tính theo năm dương lịch, ngày đến và ngày đi được tính là một ngày.