vanban.org

Điều 11. Thanh tra viên Y tế — Nghị định 77/2006/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 27/02/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 27/02/2015 Thay thế: 122/2014/NĐ-CP · 25/12/2014
Chính phủ Ban hành 03/08/2006 Hiệu lực 23/08/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 4 phiên bản · 20 năm
Nghị định số 122/2014/NĐ-CP Về tổ chức và hoạt động của Thanh tra y tế · 122/2014/NĐ-CP
Nghị định số 77/2006/NĐ-CP Về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Y tế · 77/2006/NĐ-CP
27/02/2015122/2014/NĐ-CPThay thế Đang xem 23/08/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 77/2006/NĐ-CP › Chương II › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Thanh tra viên Y tế

1. Thanh tra viên Y tế (sau đây gọi tắt là Thanh tra viên) là công chức nhà nước thuộc Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp tỉnh được bổ nhiệm và cấp thẻ Thanh tra viên để thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại các tổ chức Thanh tra Y tế.

2. Thanh tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về thanh tra và các quy định của pháp luật về y tế;

b) Xử phạt hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

3. Ngoài những tiêu chuẩn chung của Thanh tra viên quy định tại Điều 31 Luật Thanh tra, đối với Thanh tra viên chuyên ngành y tế phải là bác sĩ, dược sĩ đại học hoặc tốt nghiệp đại học khác có trình độ chuyên môn phù hợp với hoạt động thanh tra chuyên ngành, lĩnh vực theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

4. Thanh tra viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định thanh tra về các biện pháp xử lý của mình.

5. Khi xử lý vi phạm, Thanh tra viên phải thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và Nghị định này.