Điều 15. Những sự thay đổi về hộ tịch vừa phải ghi chú vào sổ hộ tịch để ở cấp cơ sở, vừa phải ghi chú vào sổ hộ tịch để Ủy ban hành chính huyện, châu, thị xã hoặc thành phố. — Nghị định 4/CP
Đang đối chiếu hiệu lực…
So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/10/1998
Bạn đang xem một phần của
Nghị định 4/CP › Chương 4 › Điều 15
Đọc toàn văn
Mục lục
Điều 1. Nay bãi bỏ bản điều lệ đăng ký hộ tịch kèm theo nghị định của Thủ tướng Chính phủ số 764/TTg ngày 8 tháng 5 năm 1956, và ban hành bản điều lệ đăng ký hộ tịch mới kèm theo Nghị định này.
Điều 2
Điều 3. Ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chi tiết và hướng dẫn Ủy ban hành chính các cấp thi hành bản điều lệ kèm theo Nghị định này.
Chương 1 — ĐĂNG KÝ VIỆC SINH
Điều 1. Trong hạn 30 ngày kể từ ngày đẻ con, cha hay mẹ phải khai sinh cho con tại Ủy ban hành chính cơ sở nơi cư trú.
Điều 2
Điều 3. Con ngoài giá thú cũng phải khai sinh.
Điều 4
Chương 2 — ĐĂNG KÝ VIỆC TỬ
Điều 5
Điều 6. Trường hợp trẻ con đẻ ra rồi mới chết thì phải vừa đăng ký vào sổ khai sinh vừa đăng ký vào sổ khai tử.
Điều 7. Khi khai tử, phải khai rõ:
Chương 3 — ĐĂNG KÝ VIỆC KẾT HÔN
Điều 8. Việc kết hôn phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ công nhận và đăng ký vào sổ kết hôn.
Điều 9. Muốn xin đăng ký kết hôn, nam và nữ phải khai với Ủy ban hành chính những điểm sau:
Điều 10. Trường hợp xét thấy nam hay nữ không đủ điều kiện để kết hôn, thì Ủy ban hành chính không đăng ký và giải thích cho đương sự rõ lý do.
Điều 11. Vợ chồng đã ly hôn nay muốn kết hôn lại với nhau cũng đăng ký kết hôn theo thủ tục nói trên.
Chương 4 — GHI CHÚ CÁC VIỆC THAY ĐỔI VỀ HỘ TỊCH
Điều 12. Sau khi công nhận việc nuôi con nuôi thì Ủy ban hành chính cơ sở ghi chú việc ấy vào sổ đã đăng ký việc sinh của người con nuôi, và vào giấy khai sinh đã cấp.
Điều 13
Điều 14
Điều 15. Những sự thay đổi về hộ tịch vừa phải ghi chú vào sổ hộ tịch để ở cấp cơ sở, vừa phải ghi chú vào sổ hộ tịch để Ủy ban hành chính huyện, châu, thị xã hoặc thành phố.
Chương 5 — ĐIỀU KHOẢN CHUNG
Điều 16. Mỗi loại việc sinh, tử, kết hôn phải đăng ký vào một thứ sổ riêng. Mẫu sổ do Bộ Nội vụ quy định.
Điều 17. Trong sổ hộ tịch, trong các bản chính, bản sao và các giấy chứng nhận hộ tịch khác không được viết tắt, tẩy, xóa, viết chữ nọ đè lên chữ kia hoặc viết hai thứ mực.
Điều 18
Điều 19. Những việc sinh, tử xảy ra trước hay sau ngày thi hành bản điều lệ này mà chưa đăng ký trong thời hạn đã quy định thì được đăng ký quá hạn.
Điều 20. Không được dùng giấy khai danh dự để chứng minh các việc sinh, tử, kết hôn xảy ra sau ngày thi hành bản điều lệ này.
Điều 21. Giấy chứng nhận hộ tịch do Đại sứ, Lãnh sự hay Đại diện ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cấp cho Việt kiều ở nước ngoài có giá trị như giấy chứng nhận cấp ở trong nước.
Điều 22. Đối với những việc sinh, tử, kết hôn đã xảy ra tại miền Nam thì có thể cho đăng ký quá hạn hoặc đăng ký lại.
Điều 23. Việc sinh, tử của ngoại kiều cư trú ở Việt Nam và việc kết hôn giữa ngoại kiều với người Việt Nam đều phải đăng ký theo điều lệ này.
Điều 24. Những việc sinh, tử, kết hôn đã được Ủy ban hành chính cơ sở đăng ký vào sổ hộ tịch phải được thống kê và báo cáo lên Ủy ban hành chính cấp trên theo mẫu và chế độ báo cáo do Bộ Nội vụ quy định.
Điều 25. Người có nhiệm vụ xin đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn mà không làm đúng những điều đã quy định trong bản điều lệ này, sẽ bị phê bình, cảnh cáo hay bị xử lý theo pháp luật.
Điều 26. Người nào tự ý sửa chữa, giả mạo giấy tờ hộ tịch, khai gian về hộ tịch sẽ bị trừng phạt theo pháp luật.
Điều 27. Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn và đôn đốc Ủy ban hành chính các cấp thi hành bản điều lệ này.
Không có điều nào khớp từ khoá.
Ghi chú của bạn
Ghi chú riêng của bạn cho: văn bản này
Ghi chú đã lưu
Cỡ chữ
Font chữ
Giãn dòng
Độ rộng
Nền giấy