Điều 3. Thời hiệu xử phạt
1. Thời hiệu xử phạt vi phạmhành chính về đăng ký kinh doanh là một năm kể từ ngày hành vi vi phạm hànhchính được thực hiện. Nếu quá thời hạn nói trên thì không xử phạt nhưng vẫn bịáp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này.
2. Đối với cá nhân đã bị khởitố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự,nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi viphạm có dấu hiệu vi phạm hành chính về đăng ký kinh doanh thì bị xử phạt hànhchính; trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đìnhchỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyềnxử phạt vi phạm hành chính về đăng ký kinh doanh; trong trường hợp này, thờihiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xửphạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.
3. Trong thời hạn được quy địnhtại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ chức lại thực hiện vi phạmhành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốntránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1 vàkhoản 2 Điều này; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về đăng ký kinh doanh đượctính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấmdứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
4. Cá nhân, tổ chức bị xử phạtvi phạm hành chính, nếu qua một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xửphạt hoặc từ ngày hết hiệu lực thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm,thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về đăng ký kinh doanh.