vanban.org

Điều 105. Bảo đảm tài chính và bảo hiểm bồi thường thiệt hại hạt nhân — Nghị định 332/2025/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/01/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Chính phủ Ban hành 18/12/2025 Hiệu lực 01/01/2026 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 3 phiên bản · 6 năm
Nghị định số 332/2025/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử về bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn, an ninh, thanh sát hạt nhân, hông báo, khai báo, cấp phép, thanh tra, kiểm tra về an toàn bức xạ và hạt nhân, ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân và bồi thường thiệt hại hạt nhân · 332/2025/NĐ-CP
01/01/2026Bản gốcThay thế Hiện hành
Nghị định số 142/2020/NĐ-CP Quy định về việc tiến hành công việc bức xạ và hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử · 142/2020/NĐ-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 332/2025/NĐ-CP › Chương VIII › Mục 2 › Điều 105
Đọc toàn văn

Điều 105. Bảo đảm tài chính và bảo hiểm bồi thường thiệt hại hạt nhân

1. Bảo đảm tài chính

a) Tổng mức bồi thường thiệt hại cho một sự cố hạt nhân được bảo đảm không thấp hơn 300 (ba trăm) triệu SDR.

SDR là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định, là quyền rút vốn đặc biệt, được quy đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường.

b) Tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải có và duy trì bảo hiểm hoặc hình thức bảo đảm tài chính khác theo quy định của pháp luật để thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại hạt nhân với mức tối thiểu là 150 (một trăm năm mươi) triệu SDR đối với mỗi sự cố xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân; 05 (năm) triệu SDR đối với mỗi sự cố xảy ra tại các cơ sở hạt nhân khác và sự cố do vận chuyển vật liệu hạt nhân.

c) Khi đề nghị cấp giấy phép vận hành thử cơ sở hạt nhân, chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải cung cấp cho Bộ Khoa học và Công nghệ tài liệu sau để chứng minh khả năng bảo đảm tài chính để bồi thường thiệt hại hạt nhân: Hợp đồng bảo hiểm hoặc phương án bảo đảm tài chính khác, hoặc cả hai tài liệu này.

Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm định và phê duyệt điều kiện bảo đảm tài chính để bồi thường thiệt hại hạt nhân trong quá trình thẩm định đề nghị cấp giấy phép vận hành thử cơ sở hạt nhân.

d) Trường hợp thiệt hại thực tế vượt quá mức bồi thường thiệt hại mà chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải chịu trách nhiệm theo quy định tại điểm b khoản này, hoặc khi chủ đầu tư, tổ chức vận hành, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức bảo đảm tài chính khác không đủ khả năng thanh toán phần nghĩa vụ bồi thường thuộc trách nhiệm của mình, Nhà nước bảo đảm chi trả phần còn thiếu để bảo đảm tổng mức bồi thường đối với mỗi sự cố hạt nhân không vượt quá 300 triệu SDR.

2. Bảo hiểm bồi thường thiệt hại hạt nhân

a) Chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân có trách nhiệm mua bảo hiểm bồi thường thiệt hại hạt nhân hoặc thực hiện các biện pháp bảo đảm tài chính khác đến mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mình theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Việc cung cấp và sử dụng dịch vụ bảo hiểm này tại Việt Nam thực hiện theo quy định tại Điều 6 Luật Kinh doanh bảo hiểm. Các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp sản phẩm bảo hiểm cho chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải luôn duy trì và bảo đảm an toàn tài chính, khả năng thanh toán theo quy định tại Điều 109 và Điều 110 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

b) Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận quy tắc, điều khoản, phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm trên cơ sở bằng chứng chứng minh doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm xác nhận tái bảo hiểm theo đúng quy tắc, điều khoản và mức khấu trừ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp cho bên mua bảo hiểm.

Doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm và doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm từ 10% tổng mức trách nhiệm của mỗi hợp đồng tái bảo hiểm phải đáp ứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 86 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản sửa đổi, bổ sung nếu có.