Điều 6.
1. Đối với người thuộc đối tượng cần đưa vào cơ sở giáo dục thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó cư trú, xem xét, lập hồ sơ, gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thẩm tra, làm văn bản đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục và gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
2. Đối với người không có nơi cư trú nhất định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 2 Quy chế này, lập biên bản báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, lập hồ sơ. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được biên bản, báo cáo, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Trường hợp người không có nơi cư trú nhất định do cơ quan công an cấp huyện hoặc cấp tỉnh phát hiện, lập biên bản vi phạm thì cơ quan công an phải tiến hành xác minh, làm báo cáo gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp để xem xét, lập hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cấp kinh phí, xây dựng nơi tạm giữ hành chính, tiền ăn cho các đối tượng trên và chỉ đạo các ngành hữu quan tổ chức quản lý chặt chẽ các đối tượng không có nơi cư trú nhất định hoặc những đối tượng có khả năng bỏ trốn trong thời gian lập hồ sơ chờ quyết định, hoặc chờ đưa vào cơ sở giáo dục.
Đối với người đang bị tạm giữ hoặc tạm giam trong các vụ án hình sự mà qua điều tra thấy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thì Thủ trưởng cơ quan điều tra báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục.
3. Hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó, các biện pháp giáo dục đã được áp dụng, nhận xét của cơ quan công an, ý kiến của tổ chức xã hội hữu quan ở cơ sở.
4. Cơ quan công an có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc thu thập tài liệu để lập hồ sơ.