vanban.org

Điều 16. Đăng ký nuôi con nuôi — Nghị định 32/2002/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/02/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/04/2012 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 126/2014/NĐ-CP · 31/12/2014 Sửa đổi, bổ sung: 06/2012/NĐ-CP · 02/02/2012
Chính phủ Ban hành 27/03/2002 Hiệu lực 11/04/2002 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 24 năm
Nghị định số 32/2002/NĐ-CP Quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số · 32/2002/NĐ-CP
01/04/201206/2012/NĐ-CPSửa đổi Đang xem 08/05/201119/2011/NĐ-CPBãi bỏ 11/04/2002Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 32/2002/NĐ-CP › Chương IV › Điều 16
Đọc toàn văn

Điều 16. Đăng ký nuôi con nuôi

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận nuôi con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi, thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên, việc đăng ký nuôi con nuôi được thực hiện tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc tại tổ dân phố, thôn, bản, phum, sóc, nơi cư trú của người nhận nuôi con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.

Khi đăng ký nuôi con nuôi, người xin nhận nuôi con nuôi phải nộp đơn xin nhận nuôi con nuôi và các giấy tờ hợp lệ khác. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân cấp xã tiến hành xác minh việc xin nhận nuôi con nuôi, nếu đã có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật, thì thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi. Sau khi bên giao và bên nhận nuôi con nuôi cùng ký tên vào Sổ đăng ký nhận nuôi con nuôi và biên bản giao, nhận con nuôi, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký Quyết định công nhận nuôi con nuôi. Bản chính Quyết định công nhận nuôi con nuôi được trao cho mỗi bên một bản tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc tại nơi cư trú của người nhận nuôi con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.

Việc đăng ký nuôi con nuôi cho người dân thuộc các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa được miễn lệ phí.